5- Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang – Nha Trang
Bài này gồm có hai phần :
Phần 1 : Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang
Bài này gồm có hai phần : Phần 2 : Binh Chủng Không Quân
Phần 1 : Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang
Theo tài liệu [1] & [2] : Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân thành lập năm 1951 tại Nha Trang, thực thuộc Tổng Cục Quân Huấn, có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo chuyên ngành cho sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân Chủng Không Quân-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Nhưng theo tài liệu [3] : Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân tại Nha Trang được thành lập vào tháng 4 năm 1952 nhưng vẫn do các sĩ quan Pháp đảm nhiệm Chỉ huy trưởng và trực tiếp huấn luyện.
Hơn nửa , theo tài liệu [4] : Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang chuyên đào tạo các hoa tiêu và quan sát viên trong nước, để đáp ứng nhu cầu bành trướng của Không Quân VNCH, trong nhiệm vụ bảo vệ không phận miền Nam Việt Nam và yểm trợ các cuộc hành quân của các Sư Đoàn Bộ Binh, ngăn chặn sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt.

Cổng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang - H́nh trích từ tài liệu [5] & [6]

Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang

Phù hiệu Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang-
H́nh trích từ tài liệu [6]

Bích chương Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang- H́nh trích từ tài liệu [6]
Phương châm của Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang : Luyện Cần- Huấn Cẩn .
Ngay từ khi Quân Đội Việt Nam được thành lập vào năm 1950, một Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, dưới sự bảo trợ của Không Quân Pháp, đươc thiết lập tại Nha Trang vào năm 1951 để đào tạo một số chuyên viên về bảo tŕ, về vô tuyến và những ngành khác cho Không Quân Việt Mam (KQVN).
Chủ yếu là có khả năng bảo tŕ loại phi cơ đơn giản như phi cơ Morane Saulnier 500 mà Không Quân Pháp dự trù sẽ chuyển giao cho KQVN, phi cơ MS.500 có thể nói là cái “phôi” của Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), tuy rằng nó xấu xí, chậm chạp, tôc lực khoảng 60 mph, bộ bánh đáp dài thọng thiếu thẩm mỹ nhưng chịu đựng được những vụng về của khóa sinh khi hạ cánh, hoặc những lồi lơm của những sân bay hành quân, nhưng đó là những bước đi chập chững của một Không Lực hùng mạnh nhất Đông Nam Á sau này, khiến nhiều quốc gia sau này trên đà tiến triển đă lấy đó làm gương mẫu để thành lập Không quân của ḿnh.
Cùng
thời gian này một số khóa sinh được tuyển
chọn gởi đi du học tại các trường huấn
luyện của Pháp như tại Salon de Provence (Học viện
Không Quân Pháp), Avord (vận tải), Aulnat (bay vỡ ḷng trên
phi cơ Stamps), Rochefort và Chamberry (cơ khí), Auxerre(truyền
tin) và tại Bắc Phi như Marrakech, Meknes, Khouribga, Blida và
Fez (khu trục, oanh tạc, điều hành viên), sau này họ
đều nắm những chức vụ quan trọng tiêu
biểu như các niên trưởng Trần Văn Hổ,
Nguyễn Xuân Vinh, Đặng Đ́nh Linh, Nguyễn Cao Kỳ,
Huỳnh Hữu Hiền, Hà Xuân Vịnh, Nguyễn Ngọc
Loan, Vũ Thượng Văn, Dương Thiệu Hùng …
Căn cứ Không Quân Nha Trang là một căn cứ lâu
đời nhất trong các căn cứ quân sự tại
Việt Nam, với ưu điểm về địa thế
có núi và biển, khí hậu ôn ḥa thời tiết tốt lư
tưởng cho việc huấn luyện phi hành nên vào tháng
ba 1952, khóa hoa tiêu quan sát đầu tiên được khai
giảng tại Nha Trang do các huấn luyện viên người
Pháp đảm nhận gồm 14 khóa sinh (4 sĩ quan và 10 dân
sự) .
Những sĩ quan khóa sinh, những người tiên phong có vinh dự đưa màu cờ của Không Quân Việt Nam vào không gian góp mặt với Không quân thế giới là niên trưởng Nguyễn Ngọc Oánh, Vơ Dinh, Từ Bộ Cam, Phạm Long Sửu Nguyễn Thế Anh cùng những bạn của khóa 1 hoa tiêu năm 1952. Trong khóa học, một tai nạn đáng tiếc đă khiến khóa sinh Nguyễn Tam Đăng tử nạn khi đơn phi, anh được truy thăng Thượng Sĩ, mặc nhiên trở thành người đầu tiên hi sinh cho KQVN.
Khi măn khóa vị khóa sinh thủ khoa, Thiếu Úy Phạm Long Sửu mang văn bằng hoa tiêu quân sự số 1 của KQVN, các khóa sinh dân sự tùy theo thứ bực khi thi măn khóa được mang cấp bậc từ thiếu úy tới thượng sĩ. Với những chuyên viên kỹ thuật và nhân viên phi hành tốt nghiệp, sau một thời gian thực tập trong những đơn vị KQ Pháp, tháng 10 năm 1953, một trong những đơn vị đầu tiên được bàn giao cho KQVN là Đệ Nhất Phi Đoàn Quan Sát và Trợ Chiến đồn trú tại Tân Sơn Nhất, Đại Úy Nguyễn Ngọc Oánh là vị chỉ huy trưởng đầu tiên của phi đoàn này.
Về
tổ chức KQVN chỉ được gọi là Pḥng
Không Quân trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu do Thiếu
Tướng KQ Pháp Cuffaut chỉ huy, sau Đại Tá Sagon thay thế.
Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân là một đại
đơn vị trực thuộc Pḥng Không Quân và đồn
trú trong căn cứ Không Quân Pháp mang tên Base Aérienne No. 194
Nhatrang, TTHLKQ được gọi tắt là CIAVN (Centre
d’Instruction Aérienne du Viet Nam) .
Căn cứ Không Quân Nha Trang c̣n có tên là căn cứ Colonna, bộ chỉ huy nằm tại địa điểm của TTHL sau này, c̣n TTHLKQ lúc đầu chỉ gồm trong khu U và mấy dẫy nhà bên cạnh phi cảng dân sự mà thôi. Vị chỉ huy trưởng Thiếu Tá Carret và hai sĩ quan phụ tá Đại Úy Sai và Đại Úy Nhiêu phụ trách Đại Đội Hành Chánh và Khối Huấn Luyện gồm ba trường: Hoa Tiêu, Quan Sát và Cơ Khí.
Trường Hoa Tiêu do Trung Úy Fatio phụ trách và Trường Quan sát do Trung Úy Desbordes cùng một số hạ sĩ quan huấn luyện viên như Thương Sĩ Vallière, Việt Nam Cộng Ḥa Tocken…, sau này được bổ sung thêm những hoa tiêu mới như Thiếu Úy Dương Thiệu Hùng, Mai Văn Hạnh, Trần Bá Quy, Nguyễn Văn Khánh…
Sân cờ và vừa là sân tập thao diễn cơ bản quân sự chỉ cách đường lộ có hàng rào kẽm gai nên những hành khách trên xe đ̣ Nha Trang Cầu Đá có thể nh́n thấy những sinh hoạt của TTHLKQ nhất là những buổi chào cờ vào sáng thứ hai mỗi tuần hoặc những buổi lễ măn khóa.

Khóa sinh Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang -Năm không xác định- H́nh trích từ tài liệu [5]
Với những phương tiện huấn luyện cũ kỹ và có thể nói là thô sơ KQVN đă khắc phục được nhiều khó khăn lúc ban đầu, nhất là về mặt tinh thần khi các khóa sinh mới chân ướt chân ráo bước vào ngưỡng cửa của Không Quân đă phải chứng kiến và tham dự buổi đưa đám theo đúng lễ nghi quân cách của một bạn đồng đội mới tử nạn trong lúc đơn phi.
Máy truyền tin liên lạc giữa phi cơ và đài kiểm soát khi bay tập trong ṿng phi đạo thường hay trục trặc nên khóa sinh phải dùng cờ hiệu xanh đỏ tại đầu phi đạo để báo cho biết là “được phép đáp” “clear to land” hoặc là “tống ga bay lại” “go around”, sự việc trên đôi khi gây trở ngại cho những phi cơ khác khi đi và đến Nha Trang, nhất là phi cơ dùng cho huấn luyện lại không sơn màu vàng cho dễ nhận.
Khi phải thực tập đáp sân ngắn các khóa sinh phải bay xuống Trại Cá, một phi đạo nhỏ phía Tây thị xă Ba Ng̣i, Cam Ranh; Những ngày này thường được tổ chức như một buổi picnic, sáng sớm một số khóa sinh và các bạn cơ khí viên đi bằng đường bộ mang các dụng cụ cần thiêt để sửa chữa cùng với những y tá của bệnh xá với đồ ăn thức uống …tuy vậy các khóa đào tạo hoa tiêu vẫn tiếp tục cho đến khi măn khế ước với KQ Pháp và TTHL tiếp nhận loại phi cơ Cessna L-19 vào năm 1956 sau khi các phi đoàn quan sát thay thế các phi cơ MS 500 bằng loại phi cơ mới này.
Về khía cạnh an phi TTHL đă có rất ít tai nạn trong khi huấn luyện :
Thiếu Úy Trương Hiệp khóa sinh tử nạn năm 1955;
Trung Úy Nguyễn Đ́nh Huệ huấn luyện viên và một khóa sinh tử nạn vào năm 1967 khi vào cận tiến đường bay 30, phi cơ bị cuốn vào ṿng gió xoáy của một chiếc vận tải cơ C-130’s vừa mới cất cánh trước đó năm phút.
Nhưng thành phố Nha Trang lại phải chấp nhận những tai họa của những thành phố gần sân bay :
Như vào tháng 8 năm 1965, một oanh tạc cơ B-57 Canberra của KQ Mỹ đă rớt vào ngay trung tâm thành phố trên đường Độc Lập gây tử thương cho hơn 12 thường dân, Phi hành đoàn đă nhảy dù vô sự;
Và cuối năm 1970, một chiến đấu cơ F-100’s Super Sabre đáp khẩn cấp trên phi đạo 12 đă trườn qua tỉnh lộ Nha trang Cầu Đá chém ngang một chiếc xe Lam không may vừa chạy tới khiến một số hành khách chết và trọng thương;
Một phi cơ của Hàng Không Việt Nam, hư thắng khi hạ cánh đường bay 30 phát hỏa khi đâm vào một xóm nhà trong khu Xóm Mới (năm nào không rơ) .
Đầu năm 1955 các hoa tiêu huấn luyện tại Pháp bắt đầu về nước, việc bàn giao quyền chỉ huy KQVN cho các sĩ quan Việt Nam được diễn ra vào ngày 01 tháng 7 năm 1955 tại Nha Trang sau một buổi duyệt binh, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă tuyển chọn Trung Úy Trần Văn Hổ , đặc cách thăng cấp Thiếu Tá, giữ trách vụ chỉ huy KQVN.
Pḥng KQ trước kia nằm trong khuôn viên của Bộ Tổng Tham Mưu tại đường Trần Hưng Đạo-Sài g̣n được chuyển về một khu biệt thự số 110 đường Testard, sau đổi tên là đường Trần Quư Cáp, rồi tới năm 1957 được đổi danh xưng là Bộ Tư Lệnh KQVN và chuyển vào căn cứ Tân Sơn Nhất.
Ngày
1 tháng 7 năm 1957 là một ngày đầy ư nghĩa của
KQVN, là ngày Không Quân VN trở thành một quân chủng riêng biệt
tách rời khỏi Lục Quân, là ngày KQVN tách rời khỏi
KQ Pháp và quan trọng hơn cả, đó là ngày ra đời
của KQVN.
Một tuần lễ sau , Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Oánh
tiếp thu toàn bộ căn cứ Nha Trang, mang tên Căn Cứ
12 (căn cứ đầu tiên của KQVN) và KQVN bắt
đầu đi vào giai đoạn phát triển, hàng ngàn
sinh viên, học sinh ưu tú đua nhau gia nhập Không Quân v́
lư tưởng cao đẹp cũng như hào khí của
sĩ phu thời chiến luôn được nêu cao trong cuốn
Đời Phi Công của Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh .

H́nh trích từ tài liệu [6]

Các bạn trẻ gia nhập Khọng Quân tháng 6 năm 1972- H́nh trích từ tài liệu [6]

Đơn xinh đầu quân- H́nh trích từ tài liệu [6]

H́nh trích từ tài liệu [6]

Thiệp chúc tết Xuân Mậu Thân 1968 của Trung tâm huấn luyện Không Quân VNCH - H́nh trích từ tài liệu [7]
Theo tài liệu [8] : T́nh nguyện gia nhập Không Quân, ngành không phi hành sau Tết Mậu Thân năm 1968, được gởi thụ huấn quân sự và chuyên môn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, trường Bộ Binh Thủ Đức, Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, Lackland Air Force Base, San Antonio, Texas; Defense Information School, Fort Benjamin Harrison, Indiana.
Theo tài liệu [5] : TTHLKQ bắt đầu tiếp nhận những trang thiết bị tối tân hơn, những phi cơ North American T-6G được dùng cho việc nâng cấp sau khi các khóa sinh qua lớp vỡ ḷng trên phi cơ L.19, sau đó là loại Cessna Skywagon với cái tên quen thuộc là U.17, cho đến khi các phi đoàn quan sát mới được thành lập sử dụng thêm loại U.17 th́ TTHL lại tiếp nhận loại Cessna Skyhawk 172 được cải biến là T.41D và sau cùng để huấn luyện chuyển tiếp lên các loại phản lực cơ A-37 và F-5, đang được trang bị cho các phi đoàn khu trục của KQVN một số phản lực cơ huấn luyện T-37 và trực thăng UH-1 được chuyển giao cho TTHLKQ, đồn trú tại căn cứ Phan Rang, Phi đoàn 920 với phản lực cơ T-37 do Thiếu Tá Đàm Thiện Ngươn Phi Đoàn Trưởng, là ngưỡng cửa của các hoa tiêu bước vào giai đoạn phản lực.
Một cựu sĩ quan huấn luyện viên phi công ông Lê Văn Chóc kể lại một vài chi tiết như sau vế phản lực cơ A-37 và phi cơ T -41 (tài liệu [4]) :
“Từ năm 1969 đến 1972 tôi được sang du học tại Hoa Kỳ để được huấn luyện trở thành một huấn luyện viên phi công. Khi tôi trở về Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH th́ tôi được giao phó nhiệm vụ của ḿnh là huấn luyện viên Không Quân tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, chuyên đào tạo các phi công lái chiến đấu cơ A-37 để bổ sung các hoa tiêu cho các Phi Đoàn A-37 trên bốn vùng chiến thuật tại miền Nam. Chương tŕnh đào tạo những hoa tiêu lái A-37 rất vi diệu, và cũng rất khó khăn cho những SVSQ muốn học loại chiến đấu cơ đặc biệt này.”
Khi học ngành lái phi cơ tại quân trường Không Quân Hoa Kỳ, th́ khóa của ông Chóc có ba người được tốt nghiệp ngành huấn luyện viên Không Quân.
Trong thời gian thụ huấn, khi đặt chân đến Hoa Kỳ, các SVSQ phải đến tŕnh diện tại căn cứ Không Quân Lackland Air Force Base, Texas. Tại đây, các SVSQ du học được căn cứ này huấn luyện sinh ngữ Anh văn trong ṿng ba tháng. Quan trọng nhất có những từ ngữ đặc biệt của Không Quân, mà các khóa sinh phải hiểu rơ. Sau đó, các SVSQ phải thi đậu một bài kiểm tra của trường th́ mới được học lái máy bay.
Sau khi đạt được tiêu chuẩn sinh ngữ, chúng tôi được đưa qua Randolph Air Force Base, Texas, để học lái chiếc phi cơ T-41. Đây là loại tàu bay căn bản để cho những người mới tập lái máy bay. V́ nó rất linh động và nhẹ nhàng khi tập lái. Chiếc T-41 có một bánh xe mũi trước và hai bánh xe thân sau, nên rất dễ để điều khiển tàu khi cất cánh hay khi đáp xuống phi đạo. C̣n loại phi cơ có hai bánh xe trước và hai bánh xe sau th́ khó để điều khiển tàu đáp xuống phi đạo. Có lẽ v́ thế nên quân trường cho chúng tôi tập lái chiếc T-41 đầu tiên.
Chiếc T-41 có hai ghế của phi công phía trước, được gọi là “side by side.” Học tṛ ngồi ghế bên trái, ông thầy ngồi ghế bên phải, và có hai cần lái ăn thông với nhau. Khi ông thầy cầm cần lái th́ ra dấu cho học tṛ phải bỏ cần lái, và phải quan sát những hành động của ông thầy trong lúc dạy ḿnh lái.
Theo tài liệu của Không Quân Hoa Kỳ (U.S. Air Force), phi cơ Cessna T-41 Mescalero là phiên bản quân sự của Cessna 172 phổ biến, được Không Quân và Lục Quân Hoa Kỳ sử dụng, cũng như lực lượng vũ trang của nhiều quốc gia khác như một máy bay huấn luyện phi công.
Năm 1964, U.S. Air Force quyết định sử dụng máy bay Cessna 172F của thị trường thương mại bán sẵn làm máy bay dẫn đầu cho các học viên phi công, thay v́ họ bắt đầu học lái máy bay phản lực T-37. Nên trong năm này, U.S. Air Force đă đặt 137 chiếc T-41A của Cessna. Lớp học viên đầu tiên của U.S. Air Force (67-A) bắt đầu đào tạo bằng phi cơ T-41 từ sân bay dân sự ở Big Spring, Texas, vào Tháng Tám, 1965.
T-41B là phiên bản của Quân Đội Hoa Kỳ, với động cơ Continental IO-360 công suất 210 mă lực (160 kW) và cánh quạt tốc độ không đổi thay cho động cơ Continental O-300 công suất 145 mă lực (108 kW), và cánh quạt bước cố định 7654 được sử dụng trong 172 mă lực của T-41A.
Năm 1968, Không Quân Hoa Kỳ đă mua 52 chiếc T-41C mạnh hơn, sử dụng động cơ Continental IO-360 công suất 210 mă lực (160 kW) và cánh quạt cố định, để sử dụng tại Học Viện Không Quân ở Colorado Springs.
Năm 1996, máy bay được nâng cấp thêm thành T-41D, bao gồm nâng cấp hệ thống điện tử hàng không và cánh quạt tốc độ không đổi.
Ông Chóc cho biết: “Sau thời gian được huấn luyện về những kỹ thuật để điều khiển tàu bay này, lúc cất cánh cũng như lúc bay bổng và đáp xuống phi đạo, thời gian học lái chiếc T-41 là 40 giờ tập lái, và phải học qua thời gian tập lái một ḿnh, mà muốn huấn luyện viên cho ḿnh lái một ḿnh th́ phải qua giai đoạn huấn luyện rất khó khăn. V́ thế có nhiều anh em sinh viên đang học tập lái chiếc T-41 đă không đạt được tiêu chuẩn của quân trường Không Quân Hoa Kỳ, cũng như các anh em không thể bay lên cao độ đành phải bị họ trả về nước. Trường hợp này là một trong những trở ngại của các SVSQ học lái máy bay tại Hoa Kỳ.”
Theo tài liệu [5] : Các trường khác được tuần tự thành lập theo đ̣i hỏi của nhu cầu như : Trường Anh Ngữ chuẩn bị ngoại ngữ cho những khóa sinh sẽ đi du học và tu nghiệp tại Hoa Kỳ,Trường Kỹ Thuật,Trường Truyền Tin Điện Tử ,Trường Quân Sự ,Truờng Quan Sát vàTrường Mưu Sinh và Thoát Hiểm.
Nhiều lớp hoặc khóa học bổ túc được khai giảng tùy theo nhu cầu, trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp tiêu chuẩn hóa khả năng lănh đạo các cấp Đoàn trong Không Quân. Ngoài ra những hoạt động của Không Quân cũng gia tăng theo nhịp độ của chiến trường, nên TTHLKQ phải đưa các khóa sinh đi bay tập tại phi trường Dục Mỹ để dành phi đạo Nha Trang cho các đơn vị hành quân.
Với phương châm “Luyện Cần Huấn Cẩn”, TTHLKQ từ thuở ban đầu với những trang bị có thể nói là của thời “đồ đá” đă dần dần trưởng thành, đă đào tạo được hàng chục ngàn chuyên viên cho đất nước, góp phần vào việc bảo vệ tổ quốc và bầu trời, .Được như vậy, thiết tưởng cũng là nhờ sự lănh đạo khéo léo của những niên trưởng tài ba đă đem những kinh nghiệm trên chiến trường áp dụng và cải tiến các chương tŕnh huấn luyện cho phù hợp với đà lớn mạnh của Không Quân.
Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên của thời cuộc, niên trưởng Nguyễn Ngọc Oánh ,là vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên và cũng là vị Chỉ huy Trưởng ,cấp bậc Chuẩn Tướng ,sau cùng của TTHLKQ Nha Trang ,sau khi Quân Đoàn 2 thất thủ vào tháng 3 năm 1975.
Sau đây là số phận sau 20/4/1975 của các Giám Đốc các Trường trực thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang trích từ tài liệu [9] :
Các Giám Đốc Trường (Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang) – H́nh trích từ tài liệu [9]
Trong biến cố mất nước tháng 4 năm 1975, tôi và gia đ́nh may mắn thoát nạn được,như tôi đă có kể lại trong bài viết Ngày Ra Đi. Chúng tôi hiện đang sống tại xứ Hoa Ky từ đó đến nay trên 26 năm, mỗi lúc chuyện tṛ với bạn bè, nhắc lại chuyện ra đi, tôi không khỏi bồi hồi xúc động khi nhớ tới các vị Giám Đốc Trường thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, không những là bạn bè mà c̣n là những sĩ quan cao cấp cùng phục vụ sát cánh và lâu dài với tôi trong một đơn vị cho tới ngày mất nước.
Trung Tâm Huấn
Luyện Không Quân là một trong chin (9) đại đơn
vị của Không Quân, có 8 trường chính:
– Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp;
– Trường Phi Hành T-37;
– Trường Phi Hành T-41;
– Trường Kỷ Thuật;
– Trường Truyền Tin & Điện Tử;
– Trường Mưu Sinh & Thoát Hiểm;
– Trường Quân Sự;
– Trường Anh Ngữ.
Theo tổ chức, TTHLKQ trên là Chỉ Huy Trưởng, dưới có Trưởng Khối Huấn Luyện, vị này có nhiệm vụ phối hợp giữa các trường, nhưng chính các Giám Đốc Trường là những vị điều hành trực tiếp các quân trường kể trên. Nếu so sánh theo bản cấp số th́ các vị Giám Đốc Trường này ngang hàng với các vị Không Đoàn Trưởng của đơn vị tác chiến của các Sư Đoàn Không Quân.
Hầu hết quân nhân Không Quân không ai không khỏi phải qua Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân một đôi lần để học quân sự hay chuyên môn nhứt là giai đoạn sau năm 1970, có chương tŕnh Việt Nam Hóa Chiến Tranh, các quân trường ở đây đă tổ chức những khóa học dây chuyền mới có thể đạt được chỉ tiêu do Bộ Tư Lệnh Không Quân đề ra, có lúc số khóa sinh lên trên năm ngàn (5,000) quân nhân.
Trách
vụ của các vị Giám Đốc Trường này
cũng nặng nề không kém trách vụ của các vị
chỉ huy đơn vị tác chiến. Nhưng ngày mất
nước ra đi, có đến 7 trong 8 vị Giám Đốc
Trường đă kẹt lại, chịu biết bao đọa
đày của hỏa ngục trần gian. Cho dầu so sánh
với các cấp chỉ huy cao cấp của các đại
đơn vị Không Quân khác, như Sư Đoàn 6 Không
Quân, th́ đây là một trường hợp quá đau
thương. Nay số phận của các vị Giám Đốc
Trường này ra sao?
Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân có lệnh di tản, rời
nơi đóng quân muôn thuở là thành phố Nha Trang ngày 1
tháng 4 năm 1975, về đồn trú trong Căn Cứ
Không Quân Tân Sơn Nhứt. Thời gian tạm trú ở
đây đúng một tháng th́ mất nước.
Từ ngày 22 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Không
Quân đă cho di tản gia đ́nh quân nhân ra khỏi nước,
ưu tiên là gia đ́nh của các vị Tướng, các Tham
Mưu Phó, các sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Tư Lệnh
Không Quân, thứ đến là gia đ́nh của các hoa tiêu
khu trục, rồi mới đến gia đ́nh các sĩ
quan các đơn vị; ưu tiên theo cấp bậc và chức
vụ.
Tính đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, một số lớn gia đ́nh sĩ quan cấp úy của các đơn vị khác đă được cấp cho phi cơ rời Việt Nam, riêng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân chỉ có gia đ́nh duy nhất của Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng được chính thức đi mà thôi, ngoài ra không có một gia đ́nh nào khác trong đó có cả gia đ́nh của vị Chỉ Huy Phó.
Nên nhớ, việc sắp xếp chỗ cho đi do Đại Tá Đỗ Văn Ri, Chánh Văn Pḥng Tư Lệnh điều khiển, chứ không phải do Pḥng Chuyển Vận thuộc Tham Mưu Phó Tiếp Vận trách nhiệm như thường t́nh. Không biết Văn Pḥng Tư Lệnh này đă căn cứ vào ưu tiên nào; giả dụ rằng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, ưu tiên kém hơn các đơn vị tác chiến như các Sư Đoàn Không Quân, th́ mọi người cũng có thể chấp nhận được, nhưng những gia đ́nh của các vị Giám Đốc này không thể di tản sau các dân sự, đa số là những người Trung Hoa Chợ Lớn.
Một điều hết sức khôi hài là Văn Pḥng Tư Lệnh nắm quyền cấp phát cho máy bay di tản từ đầu cho đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, lúc đó t́nh h́nh quá hỗn loạn, khi căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt bị thả bom, mới trao trả sự điều hành chuyển vận này lại cho Pḥng Chuyển Vận thuộc Tham Mưu Phó Tiếp Vận cùng bản danh sách hành khách ứ đọng với chỉ thị rằng “hăy t́m cách đưa hết số gia đ́nh này đi”. C̣n ǵ mỉa mai cho bằng. Đêm đó, rạng ngày 29 tháng 4 năm 1975, lúc 4 giờ sáng, Căn Cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt lại bị việt cộng pháo kích. Sáng ra Bộ Tư Lệnh Không Quân tan hàng, mạnh ai tự thoát thân, chỉ có mấy vị Tướng Không Quân được D.A.O. chấp nhận cho di tản bằng trực thăng ra Hạm Đội 7 Hoa Kỳ mà thôi. Một số sĩ quan thân tín trong đó có cả các vị Chánh Văn Pḥng của mấy ông Tướng đi theo, đều bị chận lại ở cổng D.A.O.Và tới giờ phút nguy nan này mới thấy t́nh đời và quyền hạn. Dầu một vị Tướng quyền hành tột đỉnh cũng không thể bảo vệ được người Chánh Văn Pḥng thân tín nhất, là cánh tay mặt của ḿnh. Thật là quá nhục nhă. Có người nhanh chân chạy thoát được, cũng có những kẻ bị kẹt bị tù đày trên mười năm.
Nhóm
người này có ăn có chịu, chỉ tội nghiệp
cho những sĩ quan cao cấp khác, ngày ngày chỉ trông
ngóng tin từ trên đưa xuống để có thể
đưa gia đ́nh di tản, nhưng chẳng bao giờ
tin lành đến với họ nên đành kẹt lại,
trong số này có các vị Giám Đốc Trường sau
đây:
– Đại Tá Đặng Văn Hậu, Giám Đốc
Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp Không Quân,
bị 13 năm tù. Đến Mỹ vào năm 1992 cùng với
gia đ́nh và hiện cư ngụ tại tiểu bang
Virginia, vùng quanh Washington, D.C.
– Trung Tá Đàm Thiện Nguơn, Giám Đốc Trường Phi Hành T-37 ở Phan Rang, bị tù trên mười năm, sang Mỹ vào năm 1991, cư trú tại Quận Cam, California, được ít năm th́ từ trần v́ bệnh phồi.
– Trung Tá Lê Bá Định, Giám Đốc Trường Phi Hành T-41, nếu có bị tù là ngoài ư muốn, v́ anh ta không có ư định rời Việt Nam. V́ những ngày cuối tháng 4 năm 1975, t́nh h́nh nước nhà hết sức khẩn trương, ai cũng biết được, sắp mất nước đến nơi, nhưng anh Định đă bày tỏ ư kiến trong những buổi họp hằng ngày là, nếu có mất nước, anh ở lại vào bưng, tổ chức kháng chiến chống lại Việt Cộng. Bởi vậy, anh tỉnh bơ, trong lúc đa số các sĩ quan khác chạy đôn chạy đáo cố t́m cách cho gia đ́nh di tản, nhưng đành bó tay.
Tinh thần anh Định cao lắm làm mọi người thán phục và ngưỡng mộ. Không ai biết chắc chắn anh Định hiện thời ở đâu…Nhưng mọi người khen anh Định giỏi ngoại ngữ, nhất là Anh Văn, đă từng làm thông dịch cho những buổi họp giữa các chính khách ngoại quốc và Việt Cộng nên đời sống anh được bảo đảm, khỏi bị chính quyền địa phương hăm dọa. Và nhờ dạy Anh Văn nên anh có đời sống vật chất sung túc và giàu có nữa, nên càng không muốn rời Việt Nam. Nhưng cũng có nguồn tin cho rằng anh Định bị chính quyền Việt Cộng bắt buộc phải rời Việt Nam v́ là thành phần tay sai cho gián điệp C.I.A. Cũng có thể đúng, v́ đây là “chính sách vắt chanh bỏ vỏ” muôn thuở của người Cộng Sản. Trước đây, năm 1975, khi Việt Cộng mới chiếm miền Nam, rất ít người giỏi tiếng Anh nên mới dùng anh Định, nay sau hai mươi mấy năm, họ có người của họ nên không cần anh ta nữa, không có ǵ lạ .
–
Trung Tá Nguyễn Văn Kiên, Giám Đốc Trường Kỷ
Thuật, bị kẹt lại không chịu tŕnh diện
để đi tù, nên đă dấu tông tích, cải trang làm
nghề bán củi độ thân. Sau đó cùng con trai vượt
biên và bị mất tích. Hiện gia đ́nh chị Kiên
đang sống ở San Diego, California.
– Trung Tá Tạ Minh Đức, Giám Đốc Trường
Truyền Tin & Điện Tử, bị tù trong một thời
gian ngắn, nên không đủ tiêu chuẩn để sang Mỹ
theo diện H.O (Humanitarian Operations). Ra tù, anh mưu sinh bằng
nghề đóng guốc Da Kao – Sài g̣n, hiện nay anh làm việc
cho một tiệm thuốc Bắc. Nh́n trông anh, thấy h́nh
dung anh khắc khổ lắm. Anh cho biết anh bị
đau bao tử mấy năm nay, c̣n chị Đức th́
đau chân, đi đứng rất khó khăn.
– Trung Tá Nguyễn Minh Công, Giám Đốc Trường
Mưu Sinh & Thoát Hiểm, bị tù gần 10 năm. Khi ra
tù, anh Công bị đau nặng chỉ trong mấy năm
th́ qua đời. Tôi và anh Công là anh em kết nghĩa, khi
nghe tin anh Công ở quê nhà bị khốn khổ, tôi hết
sức đau buồn và lo lắng, nhưng cũng không giúp
được ǵ thiết thực, ngoài những lời an ủi
và món quà khiêm tốn mà thôi. Sau đó, nghe chị Công cùng các
con cái đến được Mỹ, tôi rất vui mừng,
nhưng không biết rơ hiện giờ gia đ́nh chị
Công ở đâu.
–
Trung Tá Nguyễn Văn Qui, Giám Đốc Trường Quân
Sự, bị tù mười năm. Qua Mỹ giữa thập
niên 90. Chúng tôi có liên lạc với nhau bằng điện
thoại khi anh chị c̣n ở California. Sau đó anh rời
đi sang Úc v́ có con cái vượt biên và cư ngụ bên
đó. Một điểm lạ là anh Qui đau bao tử
kinh niên. Hồi trước anh chỉ ăn gạo lức
và muối mè. Thế mà khi ở tù một thời gian dài
dưới chế độ hà khắc cộng sản mà
anh chịu đựng được, đúng là phép lạ.
Vị giám đốc độc nhất thoát nạn tù
đày cộng sản là Trung Tá Lê Bá Toàn, Trường Anh Ngữ,
nhờ anh có người con đầu ḷng là công dân Mỹ
chính cống, sanh đẻ tại Mỹ khi chị Toàn cùng
theo chồng sang Mỹ thời gian anh Toàn làm Sĩ Quan Liên Lạc
từ giữa thập niên 50. Nhờ vậy mà Ṭa Đại
Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam đă lo lắng cho gia
đ́nh anh chị Toàn sang Mỹ một cách thuận lợi.
Gia đ́nh anh chị Toàn hiện ở Houston, Texas.
Nay nếu có ai bắt gặp tại Mỹ những gia
đ́nh sĩ quan thuộc TTHLKQ trước kia là chính họ
vào phút chót đă tự động xoay xở lấy bằng
đủ mọi phương tiện để thoát nạn,
chứ gia đ́nh họ không được BTLKQ cắp chỗ
phi cơ cho đi như những gia đ́nh của các
sĩ quan khác.
Biến cố nào cũng có sự mất mát và thiệt hại
về nhân mạng và tài vật. Biến cố ngày 11 tháng 9
năm 2001 xảy ra tại New York thật thảm khốc
và đau buồn, chết trên năm ngàn nhân mạng, thiệt
hại hằng trăm tỷ đô la, đối với một
nước giàu mạnh nhất thế giới với dân số
trên 280 triệu người. Nhưng nếu so sánh về
bách phân, th́ sự thiệt hại của TTHLKQ quá to lớn,
đến 7/8,
Trong biến cố mất nước tháng 4 năm 1975, bảy trong số tám sĩ quan cao cấp, Giám Đốc Trường kẹt lại, bị tù đày trong hỏa ngục cộng sản. Ba trong bảy người này đă ra người thiên cổ. Bốn người c̣n tại thế ở ba lục địa khác nhau: Á, Mỹ, Úc với thân thể bệnh hoạn tiều tụy, và nhất là con cái học hành dở dang và lập gia đ́nh muộn. Đáng buồn thay!
Phần 2 : Binh Chủng Không Quân
Như cái tựa của tài liệu [5] : Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân là Cái Nôi Của Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa . V́ vậy để bài này được đầy đủ và mạch lạc, xin ghi thêm các chi tiết về Binh Chủng Không Quân .
Theo tài liệu [9] : Không lực Việt Nam Cộng Ḥa hay Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa, là lực lượng không quân của Việt Nam Cộng Ḥa trực thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa tồn tại từ năm 1954 đến năm 1975 trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Khẩu hiệu là "Tổ Quốc - Không Gian".
Mặt khác ,theo tài liệu [8] : Theo tài liệu quân sử th́ Không Quân hay Không Lực Việt Nam Cộng Hoà được chính thức thành lập vào ngày 1 tháng 7 năm 1955 với khẩu hiệu “Tổ Quốc và Không Gian”.
Theo tài liệu [3] : Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa (tiếng Anh: Republic of Vietnam Air Force, RVNAF)
Dấu tṛn của Không lực Việt Nam Cộng ḥa thời Đệ Nhất Cộng Ḥa - H́nh trích từ tài liệu [3]
Huy hiệu Binh chủng Không quân – H́nh trích từ tài liệu [3] & [10]

Quân kỳ Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa- H́nh trích từ tài liệu [10]
I - Giai đoạn h́nh thành Không Quân Việt Nam từ thuở ban đầu đến thời Đệ Nhất Cộng Ḥa ( viết bởi tài liệu [11] viết bởi Huỳnh Minh Quang)
- Vào khoảng tháng 6 năm 1951, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam được thành lập ( Major General des Forces Armees du Việt Nam - EMG/FAVN), cơ sở đặt tại đường Trần Hưng Đạo- Sàig̣n. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh được chỉ định làm Tổng Tham Mưu Trưởng (Chef d'EMG/FAVN).
- Văn Pḥng Phụ Tá Không Quân cũng như Văn Pḥng Phụ Tá Hải Quân đều nằm trong sơ đồ tổ chức của Bộ Tổng Tham Mưu.
- Để áp dụng bản tuyên bố chung, kư kết ngày 05 tháng 6 năm 1948 tại Vịnh Hạ Long và để thi hành đúng theo tinh thần của Thỏa Ước Elysees kư tại Paris ngày 08 tháng 3 năm 1949 giữa Tổng Thống Vincent Auriol và Cựu Hoàng Bảo Đại, và với Việt Nam c̣n nằm trong Liên Hiệp Pháp (Union Francaise) cho nên Quân Đội Viễn Chinh Pháp vẫn c̣n nắm quyền chỉ huy về mặt quân sự.
Ngoài Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh đă từng phục vụ trong Không Quân Pháp hồi Đệ Nhị Thế Chiến, c̣n có một số sĩ quan Việt Nam đang phục vụ trong Quân Đội Viễn Chinh Pháp, xin được chuyển qua phục vụ trong Quân Lực Việt Nam, trong số đó có Trung Tá Trần Văn Đôn được chỉ định giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân (Major General des FAVN) kiêm nhiệm Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội.
Và các sĩ quan Pháp có mặt trong các cơ quan đầu nảo của Quân Lực Việt Nam nên tiếng Pháp vẫn phải xử dụng trong các giao dịch.
Văn Pḥng Phụ Tá Không Quân (Adjoint Air au Chef d'EMG/FAVN, cũng gọi là Departement Air) được đặt ở trên lầu Bộ Tổng Tham Mưu. Trung Tá Không Quân Pháp tên ROUZAUD được đề cử giữ chức vụ Phụ Tá Không Quân. Cạnh Trung Tá Rouzaud, có Thiếu Tá VARRY, sĩ quan tham mưu.
Nhiệm vụ của Adjoint Air là thi hành chỉ thị của Thiếu Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng để xây dựng Quân Chủng Không Quân Việt Nam, thiết lập chương tŕnh đào tạo, huấn luyện tuyển mộ, xây cất các cơ sở mới, tiếp thu doanh trại do Không Quân Pháp bàn giao. Đồng thời Phụ Tá Không Quân c̣n có nhiệm vụ liên lạc thường xuyên với Bộ Tư Lệnh Không Quân Pháp tại Viễn Đông (Commandement de l'Air en Extreme Orient - CAEO) để xin yểm trợ trong các công tác tuyển mộ, huấn luyện, du học tại các trường Không Quân tại Pháp, gởi các sĩ quan, hạ sĩ quan đến các đơn vị Pháp tập sự...
Nằm trong tổ chức của Bộ Tổng Tham Mưu từ khi thành lập vào tháng 6 năm 1951, nhưng phải chờ đến đầu năm năm 1952, Văn Pḥng Phụ Tá Không Quân mới thật sự hoạt động. Các Pḥng, Sở trực thuộc Departement Air đó h́nh thành, nằm ở dải nhờ (nhà?) dưới đất, phía sau lầu của Bộ Tổng Tham Mưu. Các Pḥng, Sở nầy đều do sĩ quan Không Quân Pháp đảm trách. được biết như sau:
Ø Pḥng Ngân Sách-Tài Chánh, tạm dịch chữ "Commissaire de l'Air" do Đại Úy X... phụ trách. Pḥng nầy hoạt động thao kế hoạch viện trợ của Chính Phủ Pháp, do CAEO có bổn phận thông báo lịch tŕnh gởi khóa sinh du học tai các trường Không Quân tại Pháp.
Ø Pḥng Ngân Sách-Tài Chánh thông báo cho Pḥng Huấn Luyện (Bureau Écoles) mỗi đợt khóa sinh du học, để Pḥng Huấn Luyện làm thủ tục lên đường, cũng tiếp đón khóa sinh măn khóa hồi hương. Và là công tác chuyên môn nên ít ai để ư.
Ø Pḥng Huấn Luyện hay là Pḥng Du Học, tạm dịch chữ "Bureau Écoles". Pḥng Du Học có nhiệm vụ:
1-) Cổ động các sinh viên, học sinh, nhân viên dân chánh có đủ điều kiện dự thi tuyển chọn khóa sinh du học tại các trường đào tạo sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn của Không Quân Pháp bằng cách:
A) Tổ chức các buổi nói chuyện tại các Trường Trung Học để giới thiệu các trường huấn luyện Không Quân tại Pháp. Cho biết các quyền lợi vật chất vá tinh thần khi du học và khi măn khóa hồi hương, như lương bổng cao khi ở bên Pháp [Hồi thời đó, sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, kinh tế Pháp suy sụp, đồng quan (Franc) mất giá cho nên một đồng bạc Đông Dương (Piastre) đổi được 17 quan Pháp], được du lịch nước Pháp trong các kỳ lễ. Khi măn khóa, có một nghề chuyên môn vững chắc;
B) Ra thông cáo tuyển mộ đăng trên các báo và phổ biến trên đài phát thanh.
2-) Tổ chức các kỳ thi tuyển mộ. Hướng dẫn các khóa sinh trúng tuyển làm thủ tục nhập ngũ. Hẹn ngày lên đường. Tiếp đón các khóa sinh hồi hương. Lập danh sách tŕnh lên cấp trên để lấy quyết định phân phối và chuyển đến Phỏng Nhân Viên làm lệnh thuyên chuyển, đề nghị thăng cấp, v.v.
Xin lưu ư :
Không Quân Việt Nam đang trong thời kỳ mới thành lập nên các cơ sở chuyên môn chưa có. Và vậy mọi thủ tục nhập ngũ đều do Đơn Vị Quản Trị Địa Phương (Unit, Administrative Regionale - UAR) đảm trách. Khám sức khỏe, phương tiện chuyên chở khóa sinh du học đều phải nhờ Không Quân Pháp đảm trách.
Tại quân Khu II và III, cuộc tuyển mộ khóa sinh du học cũng được tổ chức. Kết quả được chuyển về Bộ TTM/Phụ Tá Không Quân để Pḥng Huấn Luyện họn tất mọi thủ tục nhập ngũ và lên đường.
Như đă biết, ngày 15 tháng 7 năm 1951, Quốc Trưởng Bảo Đại đă kư Dụ thi hành tổng động viên. Kế đến, ngày 27 tháng 7 năm 1951, lệnh động viên đă ban hành, gọi thanh niên từ 20 tuổi đến 28 tuổi có bằng Cao Đẳng Tiểu Học trở lên phải tŕnh diện nhập học Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức - Nam Định (Khóa I). Các thanh niên trong lứa tuổi nói trên thấy trước sau ǵ cũng phải "đi lính" nên xin đăng vào Không Quân để vừa được "đi Tây" khỏi tốn tiền c̣n học được một nghề chuyên môn vững chắc, càng ngày càng đông. (Không được biết tin Trưởng Pḥng).
Ø Pḥng Tuyển Mộ - Bureau Recrutement - có nhiệm vụ:
1-) Thâu nhận tân binh, không nghề, hướng dẫn làm thủ tục nhập ngũ, gởi đi huấn luyện quân sự tại các Trung Tâm Huấn Luyện Địa Phương (Quang Trung) và về sau, gởi ra Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân ở Nha Trang để được huấn luyện quân sự.
- Xong phần huấn luyện quân sự, các tân binh được phân phối đến các đơn vị vừa được thành lập để làm tạp dịch, pḥng vệ, v.v.
- Việc tuyển mộ tân binh không nghề không gặp khó khăn và điều kiện t́nh nguyện nhập ngũ rất dễ dàng.
2-) Tuyển mộ các chuyên viên dân chính có nghề chuyên môn tính nguyện gia nhập Không Quân. Các chuyên viên nầy phải tŕnh đầy đủ giấy tờ chứng minh đă hành nghề và cấp bằng, nếu có. Sĩ quan phụ trách tuyển mộ tiếp xúc, khảo sót sơ khởi, kiểm tra hồ sơ và trính kết quả lên cấp trên để duyệt xét và ấn định cấp bậc đồng hóa, từ hạ sĩ nhất đến thượng sĩ, tùy theo thâm niên phục vụ tại các hảng, xưởng dân sự và tŕnh độ chuyên môn. Tuyển mộ theo phương thức nấy được nhiều thợ chuyên môn tính nguyện gia nhập Không Quân rất đông. Các thợ trúng tuyển mang cấp bực và hưởng những quyền lợi tương xứng, được thuyên chuyển đến các đơn vị xử dụng. Lần hồi sẽ được gởi đi huấn luyện quân sự.
Ø Pḥng Nhân Viên (Bureau Personnel, do Đại Úy Le Francois làm Trưởng Pḥng). Pḥng Nhân Viên có nhiệm vụ:
1-) Thiết lập lệnh thuyên chuyển càc sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ, nữ quân nhân (về sau nầy năm 1953) đến các đơn vị Không Quân Việt Nam đă thành lập, hoặc biệt phái thặng số đến đơn vị Không Quân Pháp để tập sự.
2-) Thiết lập lệnh bổ nhiệm.
3-) Lập đề nghị thăng thưởng, hoặc lệnh phạt.
4-) Quản trị hồ sơ quân bạ;
5-) Báo cáo quân số, v.v.
Ø Sở Kỷ Thuật Không Quân (Services Techniques de l'Armee de l'Air - Chánh Sở là Thiếu tá Locret, thuộc Không Quân Pháp). Sở Kỷ Thuật có nhiệm vụ:
1-) Đón nhận các sĩ quan kỷ thuật, các hạ sĩ quan tốt nghiệp các Trung Tâm và Trường đào Tạo chuyên viên các ngành tại Pháp hồi hương.
2-) Lập danh sách phân phối đến đơn vị Không Quân Việt Nam và Pháp để thực tập và chuyển danh sách qua Pḥng Nhân Viên để làm lệnh thuyên chuyển.
3-) Tiếp nhận các trang bị kỷ thuật máy móc, quân xa,...) .
Ngoài các sĩ quan Không Quân Pháp giữ các chức vụ trưởng pḥng, c̣n có Đại úy Lê Văn Châu, một kỷ sư Chánh Sở Kỷ Thuật Cứu Hỏa Đô Thành được trưng dụng với cấp bực đại úy đồng hóa (capitaine assimile).
Văn pḥng Đại úy Lê Văn Châu được đặt cùng một dải như với các Pḥng Ngân Sách-Tài Chánh, Pḥng Huấn Luyện, Pḥng Tuyển Mộ, Pḥng Nhân Viên và Sở Kỷ Thuật. Có thể nói chức vụ của Đại úy Lê Văn Châu là sĩ quan phụ tá điều hành. Ngoài việc chỉ huy trực tiếp Pḥng Tuyển Mộ và Pḥng Nhân Viên, Đại úy Châu c̣n phối hợp với Pḥng Huấn Luyện, Pḥng Ngân Sách-Tài Chánh và Sở Kỷ Thuật trong hoạt động hàng ngày. Đại úy Lê Văn Châu nhận lệnh trực tiếp của Trung Tá Rouzaud, Phụ Tá Không Quân.
Tháng 4 năm 1952, thành lập Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân tại Nha Trang nhưng vẫn do các sĩ quan Pháp đảm nhiệm Chỉ huy trưởng và trực tiếp huấn luyện.
Năm 1953, thành lập thêm 2 phi đội Quan Sát và Trợ Chiến tại Tân Sơn Nhứt và Nha Trang.
Năm 1954, Ban Không quân được đổi thành Pḥng Không Quân.
Ngay sau khi Pháp trao trả Dinh Toàn Quyền ở Đại Lộ Norodom cho chính phủ Nam Việt Nam (sau là Dinh Độc Lập), ngày 07 tháng 9 năm 1954, các cấp chỉ huy Pháp được lệnh bàn giao đơn vị, cơ sở cho cấp chỉ huy Việt Nam.
Năm 1955, Không quân Pháp bàn giao lại cho Không Quân Quốc Gia Việt Nam khoảng 25 vận tải cơ C-47, 2 Phi đoàn quan sát L-19 và 25 Khu trục cơ cánh quạt F8F Bearcat lỗi thời. Tháng 7 năm 1955, lần đầu tiên một người Việt được giữ chức vụ Phụ tá Không quân là Trung Tá Nguyễn Khánh. Giai đoạn đầu ngành Không quân chỉ được quy định với quân số 40 sĩ quan, 120 hạ sĩ quan và 500 binh sĩ.
Đến cuối năm 1955, không c̣n một quân nhân Pháp nào tại các đơn vị Hải-Lục-Không Quân Việt Nam, cũng như các cơ sở trung ương.Trung Tá Rouzaud, Phụ Tá Không Quân, măn nhiệm kỳ hồi hương cuối năm 1954. Đại Tá Không Quân Pháp SAGON (sĩ quan khu trục) được chỉ định thay thế Trung Tá Rouzaud.
Đầu tháng 7 năm 1955, Đại Tá Sagon chấm dứt nhiệm kỳ và chuẩn bị bàn giao cho sĩ quan Việt Nam. Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa liền chỉ định Đại Tá Nguyễn Khánh, sĩ quan thuộc binh chủng Nhảy Dù, thay thế Đại Tá Sagon ở chức vụ Phụ Tá Không Quân. Có thể nói Đại Tá Nguyễn Khánh là cấp chỉ huy đầu tiên của Không Quân Việt Nam. Đại Tá xin được bổ sung Trung Tá Trần Ngọc Tám (về sau lên cấp Trung Tướng) về giữ chức vụ phụ tá cho Đại tá Nguyễn Khánh.
Cuối năm 1955, Bộ Chỉ Huy Không Quân Pháp tại Viễn Đông (Commandement de l'Air en Extreme Orient - CAEO) được giải tán và được lệnh rút lui, cơ sở của CAEO bàn giao cho Không Quân Việt Nam. Cơ sở của CAEO nằm ở đường Testard, Sài G̣n (sau nầy là đường Trần Quư Cáp), nguyên là biệt thự của Ông Sửu Nhiều, đă bị trưng dụng khi Pháp trở lại Đông Dương hồi năm 1945.
Rồi một biến chuyển quan trọng đă xảy ra trong cấp lănh đạo Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa :
Sau cuộc trưng cầu dân ư, tổ chức vào ngày 23 tháng 10 năm 1955 tại Sài G̣n và các tỉnh miền Nam Việt Nam, Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế và Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm được suy tôn làm tổng thống nước Việt Nam.
Ngày 26 tháng 10 năm 1955, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố thành lập Đệ Nhất Cộng Ḥa, một thể chế mới ra đời.
Tháng 02 năm 1956, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chỉ định Trung Tướng Lê Văn Tỵ (Tư Lệnh Đệ I Quân Khu vừa được vinh thăng Trung Tướng) thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh ở chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Việt Nam Cộng Ḥa. Thiếu Tướng Trần Văn Đôn vẫn được giữ lại ở chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân kiêm Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội.
Riêng về Không Quân Việt Nam cũng có thay đổi ở cấp chỉ huy. Lệnh của Tham Mưu Biệt Bộ Phủ Tổng Thống (lúc bấy giờ là Đại Tá Huỳnh Văn Cao) chỉ thị cho Văn Pḥng Phụ Tá Không Quân gọi Trung úy Trần Văn Hổ,đang phục vụ tại Phi Đội Liên Lạc (Escadrille de Liaison Atrienne -ELA) ở Tân Sơn Nhứt về tŕnh diện Đại Tá Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống, với ngày sau khi Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh bị thay thế (tháng 2 năm 1956).
Sau khi tŕnh diện xong Tham Mưu Biệt Bộ Phủ Tổng Thống, Trung úy Trần Văn Hổ trở về Văn Pḥng Phụ Tá Không Quân với lệnh bổ nhiệm Trung Tá Trần Văn Hổ vào chức vụ Tư Lệnh Không Quân Việt Nam thay thế Đại Tá Nguyễn Khánh, được chỉ định giữ nhiệm vụ khác. Ngoài lệnh bổ nhiệm, Trung úy Trần Văn Hổ c̣n nắm trọn tay mấy nghị định thăng cấp. Như vậy là Tham Mưu Biệt Bộ đó nhận chỉ thị của thượng cấp và đă liên lạc trước với Tổng Trưởng Phụ Tá Quốc Pḥng.
Trung úy Trần Văn Hổ đă được thăng cấp đại úy thực thụ, thiếu tá tạm thời và trung tá giả định. Cuộc bàn giao xảy ra nhanh chóng.
Theo tài liệu [3] : Sau cuộc trưng cầu dân ư tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng ḥa. Lực lượng Không quân Quốc gia Việt Nam cũng được đổi tên thành Không Quân Việt Nam Cộng ḥa. Thiếu tá Trần Văn Hổ, đương kim Phụ tá Không quân, được thăng Trung tá, và trở thành Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa.
Xin mở đấu ngoặc ở đây, là sau khi Trung Tướng Hinh bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho Thiếu Tướng Lê Văn Tỵ xong th́ Trung Tướng Hinh đă trở về với Không Quán Pháp với cấp bực cũ (Trung Tá?). Sau đó Tướng Hinh trở qua Pháp tiếp tục phục vụ trong Không Quân Pháp, lần hồi được vinh thăng đến cấp bậc Trung Tướng Không Quân Pháp, giữ chức vụ rất quan trọng là Tư Lệnh Lực Lượng Tấn Công của Pháp, dưới thời cố Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle (Commandant de la Force de Frappe Francaise). Hiện nay, tướng Hinh đă về hưu và sống tại Pháp.
Trường hợp Thiếu Tá Lê Văn Châu (đă được thăng cấp Thiếu Tá hồi năm 1954), có quốc tịch Pháp, xin từ chức để trở về với Không Quân Pháp, và hồi hương trong năm 1956.
Trung Tá Trần Văn Hổ vừa nhậm chức Tư Lệnh Không Quân Việt Nam th́ các pḥng sở của CAEO đă được sửa chữa, sơn phết lại sạch sẻ.
Trung Tá Trần Văn Hổ đặt Bộ Tham Mưu tại cơ sở mới. Các văn pḥng cũng như nhân viên các cấp thuộc Văn Pḥng Phụ Tá Không Quân tại Bộ Tổng Tham Mưu được dọn về theo.
Không được rơ tại sao lúc ban đầu lại đặt tên là Bộ Tham Mưu Không Quân. Có lẽ và lúc đó quân số Không Quân không được cao, khoảng 2.500 người, các cơ sở, các đơn vị không có nhiều. Cho đến khi Bộ Tham Mưu Không Quân dọn về căn cứ Tân Sơn Nhứt đầu năm 1957 th́ Không Quân Việt Nam tiếp thu trọn vẹn các căn cứ, đơn vị, trung tâm do Không Quân Pháp chuyển giao. Bộ Tham Mưu được đổi thành Bộ Tư Lệnh Không Quân. Trung Tá Trần Văn Hổ cũng được thăng Đại Tá. Khi Trung Tá Hổ về Bộ Tham Mưu Không Quân, Ông đă chọn Đại úy Lê Trung Trực (sau được thăng Thiếu Tá tạm thời) làm Tham Mưu Trưởng.
Các Pḥng Hành Quân, Huấn Luyện, Truyền Tin đều có sĩ quan đảm trách. Pḥng Nhân Viên được Bộ Tổng Tham Mưu chỉ định Đại úy Đặng chuyển sang Không Quân để giữ chức vụ Trưởng Pḥng Nhân Viên. Ty An Ninh Không Quân vẫn c̣n biệt phái tại Nha An Ninh Quân Đội. Ngoài ra, c̣n có một Trung Đội Pḥng Vệ, canh ác và bảo vệ Bộ Tham Mưu Không Quân do một trung sĩ nhất đảm trách. Chỉ có Phóng Tài Chánh là chưa thành hính. Lương bổng sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ đều do Hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu và đơn vị Hành Chánh đia phương đảm trách.
Sự h́nh thành Không Quân Việt Nam ở giai đoạn đầu đến đây là chấm dứt.
Bước sang năm 1957 là giai đoạn bành trướng Không Quân Việt Nam.
Qua các sự việc nêu trên, có thể nói:
- Đại Tá Nguyễn Khánh là vị sĩ quan Việt Nam đầu tiên chỉ huy Không Quân Việt Nam.
- Đại Tá Trần Văn Hổ là vị Tư Lệnh Không Quân đầu tiên của Không Quân Việt Nam.
Theo tài liệu [3] : Năm 1957, theo chương tŕnh hợp tác viện trợ, một phái đoàn Không quân Hoa Kỳ sang nghiên cứu t́nh h́nh để soạn thảo kế hoạch huấn luyện cho Không quân Việt Nam Cộng ḥa. Nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan được tuyển chọn sang tu nghiệp tại các trường Không quân Hoa Kỳ. Các phi trường Tân Sơn Nhất, Biên Ḥa, Đà Nẵng được xây dựng mở rộng. Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang cũng được xây dựng quy mô hơn, nhằm đào tạo tại chỗ các khóa hoa tiêu và quan sát viên, và các khóa đào tạo chuyên viên để bổ sung cho các đơn vị.
Tháng 9 năm 1959, một Phi đội đầu tiên gồm 6 phi cơ A-1 Skyraider (Thiên tướng) được Hoa Kỳ chuyển giao cho Không quân Việt Nam Cộng ḥa. Sau đó trong ṿng 1 năm có thêm 25 chiếc Skyraider khác được bàn giao tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt.
Máy bay A-1 Skyraiders tại sân bay Biên Ḥa, ngày 17 tháng 10 năm 1968-
H́nh trích từ tài liệu tài liệu [10]
Theo tài liệu [3] : Năm 1960, Phi đoàn 1 Khu trục cơ được thành lập và bắt đầu hoạt động từ Bến Hải đến Cà Mau để yểm trợ cho Bộ binh Việt Nam Cộng Ḥa
Năm 1961, chương tŕnh trợ giúp của Hoa Kỳ có tên Farm Gate đă đưa các loại phi cơ cánh quạt huấn luyện T28, Oanh tạc cơ hạng nhẹ B26 và vận tải cơ C.47 cùng khoảng 124 sĩ quan và 228 quân nhân Hoa Kỳ sang giúp huấn luyện. Các hệ thống hướng dẫn và kiểm soát không lưu được thiết lập tại các phi trường Tân Sơn Nhứt, Đà Nẵng và Pleiku. Liên đoàn 1 Không vận đầu tiên được thành lập với Trung tá Nguyễn Cao Kỳ được chỉ định làm Liên đoàn trưởng. Hoa Kỳ cũng trao cho Không quân Việt Nam Cộng ḥa thêm 16 Vận tải cơ hạng trung C.123 trong tháng 12 năm 1961.
Ngày 26 tháng 2 năm 1962, hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử trên đường bay huấn luyện đă đột ngột bay trở lại dội bom mưu toan giết chết Tổng thống Việt Nam Cộng ḥa Ngô Đ́nh Diệm. Ngay lập tức Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm ra lệnh đ́nh chỉ vô hạn định các phi vụ chiến đấu. Cũng v́ lư do này mà đương kim Tư lệnh Không quân là Đại tá Nguyễn Xuân Vinh bị thất sủng, phải xin giải ngũ với lư do sang Hoa Kỳ học ngành Tiến sĩ Không gian.
Năm 1962, các đơn vị Không quân tác chiến và Yểm trợ tác chiến được tăng lên cấp Không đoàn tại mỗi vùng Chiến thuật: Không đoàn 41 (căn cứ ở Đà Nẵng), Không đoàn 62 (Pleiku), Không đoàn 23 (Biên Ḥa), Không đoàn 33 (Tân Sơn Nhất), Không đoàn 74 (Cn Thơ)
Tại sao lấy ngày 01 tháng 7 làm Ngày Không Lực Việt Nam?
Đại Tá Nguyễn Khánh thay thế Đại Tá Sagon ở chức vụ Phụ Tá Không Quân đầu tháng 7 năm 1955. Trung Tá Trần Văn Hổ, Tư Lệnh Không Quân và Thiếu Tá Lê Trung Trực đă nhận định rơ sự kiện quan trọng nầy nên quyết định lấy ngày 01 tháng 7 hàng năm làm Ngày Không Lực đánh dấu ngày "chào đời" của Không Quân Việt Nam.
II- Không Quân Việt Nam thời Đệ Nhất Cộng Ḥa thời Đệ Nhị Cộng Ḥa
Theo tài liệu [3] :
Sau cuộc "Chỉnh lư" lên nắm quyền, tướng Nguyễn Khánh thực hiện một số cải tổ trong Quân đội. Ngoài việc đặt ra thêm cấp bậc Chuẩn tướng, ông c̣n cho thay đổi tên gọi "Quân đội Việt Nam Cộng ḥa" thành "Quân lực Việt Nam Cộng ḥa". Danh xưng Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa cũng được sử dụng chính thức từ lúc đó.
Năm 1965, Không lực Việt Nam Cộng Ḥa có thêm các Phi đoàn Khu trục cơ A-37 Dragonfly và sau đó là các Phi đoàn Không vận cánh quạt loại lớn Lockheed C-130 Hercules và trực thăng CH-47 Chinook.
Ngày 3 tháng 2 năm 1965, một Phi đoàn gồm 24 chiếc A-1H Skyraider do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy cất cánh từ Căn cứ Không quân Đà Nẵng và tham gia vào Chiến dịch Mũi tên lửa (Flaming Dart) do Hoa Kỳ vạch định, tấn công các địa điểm ở phía bắc Vĩ tuyến 17.
Phi cơ A-1H Skyraider thuộc Phi đoàn Khu trục cơ 520 tại Căn cứ Không quân B́nh Thủy, Cần Thơ -H́nh trích từ tài liệu [3]
Ngày 11 tháng 2 năm 1965, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tư lệnh phó Không lực Việt Nam Cộng ḥa, làm Phi đoàn trưởng 28 chiếc Skyraider của Việt Nam Cộng ḥa cùng với 28 chiếc F100 của Không quân Hoa Kỳ mở cuộc tấn công thứ hai vào lănh thổ phía bắc vĩ tuyến 17. Trong đợt này phi công Phạm Phú Quốc bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam[.
Vào năm 1965, Không lực Việt Nam Cộng Ḥa có 12.000 quân, đến 1966 là 16.000 quân. Bao gồm 5 không đoàn chiến thuật, 1 không đoàn tiếp vận. Trung tâm huấn luyện trong nước duy nhất đặt tại Nha Trang.
Năm 1967, Không Lực Việt Nam Cộng ḥa có thêm 1 Phi đoàn Khu trục trang bị phản lực cơ F-5.
Phi cơ F-5 C tại Căn cứ Không quân Biên Ḥa năm 1971- H́nh trích từ tài liệu [3]
Năm 1970, với đà phát triển nhanh của Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa, các Không đoàn Chiến thuật phát triển thành 4 Sư đoàn không quân, tác chiến hỗ trợ cho 4 Vùng Chiến thuật. Năm 1971, Sư đoàn 5 Không quân được thành lập và trở thành Lực lượng Không quân Trừ Bị của Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1972, thành lập thêm tại Quân khu 2 Sư đoàn 6 chịu trách nhiệm vùng trời chiến trường Cao nguyên Trung phần.
(Tổng cộng sáu (6) Sư đoàn không quân ; Năm (5) tác chiến và một (1) Trừ Bị ).
Ở thời điểm 28/1/1973, Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa có 2.073 máy bay các loại: 79 A-1, 248 A-37, 66 C-119G/K, 32 C-130, 239 O-1, 35 O-2, 24 T-37, 10 U-6, 85 U-17, 19 C-123, 56 C-7, 76 C-47, 24 T-41, 70 CH-47, 859 UH-1, 151 F-5 A/B/E.
Vào tháng 6 năm 1974, binh chủng Không Quân gồm có 63.000 nhân sự và 2.750 phi cơ.
Tính đến cuối năm 1974, Không lực Việt Nam Cộng Ḥa có tổng số quân lên tới 62.583, trong đó có 6.788 phi công; tổng số máy bay lên tới 1.850 chiếc, trong đó có 260 máy bay tiêm kích, số c̣n lại là máy bay ném bom, trinh sát, vận tải và trực thăng. Phẩm chất quality) máy bay cũng cải tiến (thay F-5A bằng F-5E).
Năm 1975, Không lực Việt Nam Cộng Ḥa có 5 Sư đoàn Không quân tác chiến (20 Phi đoàn Khu trục cơ với khoảng 550 phi cơ A-1H Skyraider, A-37 Dragonfly, và F-5, 23 Phi đoàn Trực thăng với khoảng 1.000 trực thăng UH-1 Iroquois và CH-47 Chinook, 8 Phi đoàn quan sát với khoảng 200 phi cơ O-1 Bird Dog, O-2 Skymaster, và U-17), 1 Sư đoàn Vận tải (9 Phi đoàn vận tải với khoảng 150 phi cơ C-7 Caribou, C-47 Skytrain, C-119 Flying Boxcar, và C-130 Hercules), 1 Không đoàn Tân trang Chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long (attack squadron) với các phi cơ Fairchild AC-119, Lockheed AC-130. Ngoài ra c̣n có các Phi đoàn Trắc giác (t́nh báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát, và Biệt đoàn Đặc vụ 314.
III-Sơ lược về sự thành lập các đơn vị Không Quân
Theo tài liệu [3] & [12] : Quân số vào lúc cao điểm là trên 60.000 quân nhân với hơn 2000 phi cơ các loại .
Theo tài liệu [11] viết bởi Trần Minh Khôi & tài liệu [12] :
Đầu năm 1964, các căn cứ Không Quân được tổ chức thành các Không Đoàn, được phân phối theo thứ tự sau: KĐ 41CT thuộc Vùng I, KĐ 62 CT thuộc vùng II, KĐ 23CT thuộc vùng III, KĐ 33CT tại Tân Sơn Nhất, KĐ 74 CT thuộc vùng IV.
Sau đó vào năm 1970, với sự bành trướng của Không Lực VNCH , các Không Đoàn Chiến Thuật được lần lượt trở thành các Sư Đoàn Không Quân.
Theo tài liệu [8] : Tính đến tháng 4 năm 1975, Không Lực Việt Nam Cộng Hoà có gần 70 ngàn quân nhân các cấp, hơn 2000 phi cơ đủ loại, với 5 Sư Đoàn tác chiến, một Sư Đoàn Không Vận, Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật Tiếp Vận, Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân, Không Đoàn Kiểm Báo, Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, Trung Tâm Y Khoa Không Quân, Trường Chỉ Huy Tham Mưu Không Quân.
Đơn vị Anh ngữ Chú thích
1 Bộ Tư lệnh Air Command Đặt tại Tân Sơn Nhất, Sài G̣n
2 Sư đoàn Air Division Từ 2 Không đoàn trở lên
3 Không đoàn Wing Nhiều Phi đoàn hay từ 2 Liên đoàn trở lên
4 Liên đoàn Group Từ 2 Phi đoàn trở lên
5 Phi đoàn Squadron Gồm nhiều Phi đội hay Phi tuần
6 Phi đội Flight Từ 4 đến 6 Phi cơ
7 Phi tuần Section (Detail) Từ 2 đến 3 Phi cơ
Bộ Tư lệnh Không quân VNCH tại căn cứ KQ Tân Sơn Nhứt – H́nh trích từ tài liệu [10]
Ghi chú : Theo tài liệu [3] & [8] & [12] :
Mỗi Phi đoàn lấy danh hiệu có 3 số, nếu số đầu là 1, ví dụ Phi Đoàn 116 là liên lạc, quan sát. Số 2, như Phi Đoàn 215 là trực thăng chiến đấu, Biệt Đội 259 A, là tản thương, số 3 như Phi Đoàn 314 đặc vụ, là chuyên chở VIP, số 4 như Phi Đoàn 427 là vận tải, số 5 như Phi Đoàn 522 là khu trục oanh tạc, chiến đấu cơ, không có Phi Đoàn nào mang số 6, số 7 như Phi Đoàn 718 là thám sát, tác chiến điện tử, số 8 như Phi Đoàn 821 là Hoả Long, soi sáng trận địa, tác xạ bằng đại liên và số 9 như Phi Đoàn 918, chuyên huấn luyện phi công tương lai.
Số hiệu của
các Phi đoàn gồm có 3 chữ số. Theo đó, chữ số
đầu trong 3 chữ số của Phi đoàn được
dùng để chỉ công dụng của Phi đoàn đó:
– Số 1: Phi đoàn Liên lạc,
– Số 2: Phi đoàn Trực thăng chiến đấu,
– Số 3: Đặc vụ,
– Số 4: Vận tải,
– Số 5: Khu trục oanh tạc, chiến đấu
cơ,
– Số 7: Quan sát (thám sát), tác chiến điện tử
– Số 8: Hỏa long, và
– Số 9: Huấn luyện.
Xin ghi thêm theo tài liệu [3] : Số hiệu của các
Phi
đoàn gồm có 3 chữ số. Theo đó, chữ số
đầu trong 3 chữ số của phi đoàn được
dùng để chỉ công dụng của Phi đoàn đó và
được quy định như sau:
· Ngành Quan sát: 110, 112, 114...
· Ngành Trực thăng: 211, 213, 215...
· Ngành Đặc nhiệm: 312,314, 316...
· Ngành Vận tải: 413, 415, 417...
· Ngành Khu trục: 514, 516, 518...
· Ngành Oanh tạc: 615, 617...
· Ngành Không thám: 716, 718...

Thiệp chúc tết Xuân Mậu Thân 1968 của Phi Đoàn 215 - H́nh trích từ tài liệu [7]

Thiệp chúc tết Xuân Mậu Thân 1968 của Phi Đoàn 413- H́nh trích từ tài liệu [7]

Thiệp chúc tết Xuân Mậu Thân 1968 của Phi Đoàn 415. H́nh trích từ tài liệu [7]
Theo tài liệu [12] :
Năm 1975, KLVNCH có 5 Sư Đoàn Không quân tác chiến:
– 20 Phi đoàn Khu trục cơ với khoảng 550 phi cơ A–1H Skyraider, A–37 Dragonfly, và F–5,
– 23 Phi đoàn Trực thăng với khoảng 1,000 phi cơ UH–1 Iroquois và CH–47 Chinook,
– 8 Phi đoàn Quan sát với khoảng 200 phi cơ O–1 Bird Dog, O–2 Skymaster, và U–1;
Một Sư Đoàn Vận tải với các đơn vị sau đây: 9 Phi đoàn Vận tải với khoảng 150 phi cơ C–7 Caribou, C–47 Skytrain, C–119 ,Flying Boxcar, và C–130 Hercules;
Một Không đoàn Tân trang Chế tạo;
Bốn (4 ) Phi đoàn Hỏa long (Attack squadron) với các phi cơ Fairchild AC–119, Lockheed
AC–130 .
Dưới đây là chi tiết về năm (5) Sư Đoàn Không quân tác chiến và Sư Đoàn Không quân trừ bị (trích từ tài liệu [11] & [12]) :
I. Sư Đoàn 1 Không quân (Đà Nẵng) : Được thành lập vào tháng 9, tại Đà Nẵng.
Sư Đoàn Trưởng đầu tiên: Đại tá Nguyễn Đức Khánh. Sư Đoàn 1 gồm có 3 Không đoàn chiến thuật (CT) số 41,51 và 61.
1. Không đoàn 41 CT: Được thành lập đầu tiên vào tháng Giêng năm 1964. Tư Lệnh Không Đoàn đầu tiên: Thiếu tá Phạm Long Sửu. Không đoàn 41 CT gồm các phi đoàn
2 phi đoàn quan sát: Phi đoàn Liên lạc 110 (110MS 500 Criquet ) với phi cơ O-1 Bird Dog, O-2, U-17 A/B Skywagon và Phi đoàn 120 với phi cơ O-1, U-17
1 phi đoàn vận tải 427 với phi cơ C7 Caribou
1 biệt đội 718 với phi cơ EC-47D
1 biệt đội 821 với phi cơ AC-119K
2. Không đoàn 51 CT Đà Nẵng gồm có:
5 phi đoàn trực thăng :213,233,239,253,257 với phi cơ UH-1H,
1 phi đoàn trực thăng :247 với phi cơ CH-47A
3. Không Đoàn 61 CT: KĐ trưởng đầu tiên: Trung Tá Thái Đệ, gồm có:
3 phi đoàn phản lực: A 37:
- Phi đoàn 516 (Phi Hổ):
Chỉ huy trưởng đầu tiên: Đại Úy Phạm Long Sửu
Phi đoàn 516 được thành lập vào năm 1962 tại Nha Trang, trang bị với phi cơ T28-D, di chuyển ra Đà Nẵng vào năm 1964 và được trang bị bằng phi cơ A 1-H Skyraider. Trong năm 1968, tất cả nhân viên phi hành đoàn đă sang Hoa Kỳ để huấn luyện phản lực cơ A37. Theo tài liệu Phi đoàn Khu trục 516 A–37B Dragonfly Nha Trang
- Phi đoàn 528 (Hổ Cáp): PĐ trưởng đầu tiên: Thiếu tá Cao Văn Khuyến.
- Phi đoàn 528 được thành lập vào năm 1970 với phản lực cơ A37 (Phi đoàn Khu trục 528 A–37B Dragonfly Đà Nẵng)
- Phi đoàn 550 (Nhện Đen): PĐ trưởng đầu tiên : Thiếu Tá Lê Trai.
- Phi Đoàn 550
được thành lập cuối năm 1972 với phản
lực cơ A37 Phi đoàn Khu trục 550 A–37B Dragonfly
Đà Nẵng
- 1 Phi đoàn phản lực F 5:
- Phi đoàn 538 (Hồng Tiễn) : PĐ trưởng đầu tiên: Thiếu tá Phạm Đ́nh Anh.
PĐ 538 được
thành lập cuối 1972 với phản lực cơ F-5A ,
F-5B Phi
đoàn Khu trục 538 F–5A/B Freedom Fighter Đà Nẵng
II. Sư Đoàn 2 Không quân (Nha Trang) : Sư Đoàn 2 KQ được thành lập vào Tháng 7 năm 1970 tại Nha Trang .SĐ Trưởng đầu tiên: Đại tá Nguyễn Văn Lượng. Sư Đoàn 2 Không Quân gồm có 2 Không đoàn chiến thuật (CT) số 62 và 92.
1. Không Đoàn 62 CT tại Nha Trang : Được thành lập vào Tháng Ba năm 1964 tại Pleiku, sau đó dời về Nha Trang vào Tháng Giêng năm 1965.Tư Lệnh KĐ đầu tiên: Trung Tá Trần Văn Minh
Không Đoàn 62 CT gồm các phi đoàn:
- 1 phi đoàn quan sát: 114 với phi cơ O–1 Bird Dog, U–17A/B Skywagon
- 2 phi đoàn trực thăng: 215,219 với phi cơ H–34 Choctaw, UH–1
- 1 phi đội (biệt đội) trực thăng tải thương 259C với phi cơ UH-1
- 1 biệt đội vận tải 821 với phi cơ AC-119K
- 1 phi đoàn vận tải 817 với phi cơ AC-47D Spooky
2. Không Đoàn 92 CT tại Phan Rang và được thành lập vào giữa năm 1972. KĐ trưởng đầu tiên: Trung Tá Lê Văn Thảo.
Gồm có 3 phi đoàn phản lực A37 và 1 phi đội trực thăng tải thương.
- Phi đoàn 524 (Thiên Lôi) , PĐ Trưởng đầu tiên: Đại Úy Nguyễn Quang Ninh
Phi Đoàn 524 được thành lập vào năm 1965 tai Nha Trang và được trang bị
- A1-H Skyraider.
Đến
1968, phi đoàn 524 trở thành phi đoàn đầu tiên tiếp
nhận phản lực cơ A37 B- Dragonfly
(Tiền thân của Phi đoàn 524 là một biệt đội
của Phi đoàn 516 tại Đà nẵng, do Đại Úy
Nguyễn quang Ninh làm đội trưởng, đầu
tiên tại căn cứ 92 - Pleiku, sau dời về Nha
Trang nhưng vẫn lănh trách nhiệm bao vùng II Chiến
thuật, từ phía Nam Quảng Ngăi đến tận phía
Nam Phan Thiết (B́nh thuận)) Cho đến cuối năm
1965 Phi đoàn 524 mới được thành lập với
thành phần nồng cốt là những Hoa tiêu của biệt
đội 516 . Phi đoàn 524 lần lượt được
chỉ huy bởi Đại �Ú Nguyễn Quang Ninh,
Đại Úy Đặng duy Lạc, Đại Úy Phạm
văn Phạm, Thiếu tá Bùi gia Định và vị
chỉ huy trưởng sau cùng là Trung tá Sử ngọc
Cả.)
Thiếu Tá Sử Ngọc Cả và phi đoàn di chuyển từ Nha Trang vào Phan Rang 1973.
- Phi đoàn 534 (Kim Ngưu), PĐ trưởng đầu tiên: Thiếu Tá Nguyễn Văn Thi.
PĐ
534 được thành lập giữa năm 1972.
Đây là Phi đoàn Khu trục 534 A–37B Dragonfly.
- Phi đoàn 548 (Ó Đen) , PĐ trưởng đầu
tiên: Thiếu Tá Trần Mạnh Khôi;
Phi Đoàn 548 được thành lập cuối năm 1972. Đây là Phi đoàn Khu trục 548 A–37B Dragonfly .
-1 phi đội (biệt đội) trực thăng tải thương 259D với phi cơ UH-1
III-Sư Đoàn 3 Không quân (Biên Ḥa) : Được thành lập tháng 5 năm 1970 tại Biên Hoà.
SĐ trưởng đầu tiên: Đại Tá Huỳnh Bá Tính . Sư Đoàn 3 Không Quân gồm có 3 Không đoàn chiến thuật (CT) số 23 ,43 và 63.
1. Không Đoàn 23 Chiến Thuật : Được thành lập tháng 6 năm 1964 tại Biên Hoà.
Tư Lệnh KĐ đầu tiên: Trung Tá Phạm Long Sửu
Không Đoàn 23 CT được Huấn Luyện Khu Trục vào thời điểm 1960-1969.
Không Đoàn gồm các phi đoàn: 2 phi đoàn quan sát : Phi đoàn 112 Liên Lạc MS 500 Criquet với phi cơ O-1 Bird Dog, U–17A/B Skywagon và Phi đoàn 124 với phi cơ O-1, U17 Bird Dog, U–17A/B Skywagon, O–2A Skymaster
Phi cơ quan sát O-1 thuộc Phi đoàn Liên lạc 112/Không đoàn 23 tại Căn cứ Không quân Biên Ḥa 1971 - H́nh trích từ tài liệu [3] :
- 2 phi đoàn khu trục Skyraider:
- Đệ nhất Phi Đoàn Khu Trục được thành lập năm 1956.
Chỉ huy trưởng đầu tiên : Đại Úy Huỳnh Hữu Hiền
Sau nay đổi lại là Phi Đoàn 1 Khu Trục ( Đại Úy Lưu Văn Đức chỉ huy) . Vào 1960, đă đổi tên thành Phi Đoàn 514 (Phượng Hoàng) khi phi cơ Bearcat F-8F được thay thế bằng phi cơ A1-H và do Đại Úy Nguyễn Quang Tri chỉ huy.
- Phi đoàn 518 (Phi Long) Chỉ huy trưởng đầu tiên: Thiếu tá Phạm Phú Quốc
Phi đoàn thành lập đầu năm 1964 . Đây là Phi đoàn Khu trục 518 A–1 Skyraider.

Thiệp chúc tết Xuân Mậu Thân 1968 của Không Đoàn 23-H́nh trích từ tài liệu [7]
2-Không Đoàn 43 CT (Biên Ḥa) gồm :
-5 phi đoàn trực thăng UH-1: 221, 223, 231, 245, 251,
-1 phi đoàn 237 Chinook CH-47A: 237;
-1 phi đội (biệt đội) trực thăng tải thương UH-1: 259E
3-
Không Đoàn 63 CT (Biên Ḥa) gồm 5 phi đoàn phản lực F-5
- Phi đoàn 522 (Thần Ưng) đệ nhất phi đoàn phản lực F-5
Chỉ huy trưởng đầu tiên: Đại Úy Nguyễn Quốc Hưng
Thành lập tháng 6 năm 1967, gồm các phi cơ F-5A Freedom Fighter, F-5B, RF-5A Freedom Fighter
Ghi chú: Phi Đoàn 522 khu trục Skyraider được thành lập năm 1964 tại Tân Sơn Nhất, trực thuộc Biệt đoàn 83 , Đại Úy Nguyễn Văn Tường là Chỉ huy trưởng đầu tiên. Sau đó một số hoa tiêu của phi đoàn nầy được gửi đi học phản lực cơ F5, một số khác thuyên chuyển về các Phi đoàn: 514, 516, 518, 520.
Các phi công chiến đấu cơ F-5A Không đoàn 23 của Không lực VNCH cùng với cố vấn Mỹ, tháng 4 năm 1968- H́nh trích từ tài liệu [10] :
- Phi Đoàn 536 (Thiên Ưng)
Phi đoàn trưởng đầu tiên: Thiếu Tá Đàm Thượng Vũ
Thành lập cuối 1972, gồm phản lực cơ F-5A, F-5B Freedom, F-5E Tiger Phi đoàn Khu
Phi đoàn trưởng đầu tiên: Thiếu tá Nguyễn Tiến Thịnh
- Phi Đoàn 540 (Hắc Ưng)
Phi đoàn trưởng đầu tiên: Thiếu tá Nguyễn Tiến Thịnh
Thành lập cuối năm 1972, gồm phản lực cơ F-5A Freedom Fighter .
- Phi đoàn 542 (Kim Ưng)
Phi đoàn trưởng đầu tiên: Thiếu Tá Trịnh Bửu Quang
Thành
lập cuối năm 1972, gồm phản lực
cơ F-5A Freedom Fighter
- Phi đoàn 544 (Hải Ưng)
Phi đoàn trưởng đầu tiên: Thiếu Tá Nguyễn Văn Tường
Thành lập cuối năm 1972, gồm phản lực cơ F-5A Freedom Fighter
IV- Sư Đoàn 4 Không quân (Cần Thơ) : Được thành lập tháng 3 năm 1970 tại B́nh Thủy.
Sư Đoàn Trưởng đầu tiên: Đại tá Nguyễn Huy Anh. Sư Đoàn 4 gồm các Không Đoàn chiến thuất 64, 74 và 84.
1-Không đoàn chiến thuật 64 (B́nh Thủy) gồm các phi đoàn:
-Phi đoàn Liên lạc 120: O–1 Bird Dog, U–17A/B Skywagon B́nh Thủy
-1 phi đoàn trực thăng Chinook 249, CH-74A Chinook
-2 phi đoàn trực thăng 217,255 ,UH-1
-1 phi đội tải thương trực thăng 259H, UH-1H
2-Không đoàn 74 CT tại B́nh Thủy, gồm các phi đoàn:
-2
phi đoàn quan sát 116, 122 với phi cơ O-1 Bird Dog,
U–17A/B Skywagon
-3 phi đoàn phản lực A37
- Phi đoàn 520 (Thần Báo) thành lập năm 1964 tại Biên Hoà
Chỉ Huy Trưởng đầu tiên: Đại Úy Nguyễn Ngọc Biện
Phi đoàn lúc đầu tiên tiếp nhận tất cả các hoa tiêu khu trục mới về nước. Trong khi chờ đợi để huấn luyện A 1 Skyraider với 34 Tactical Wing (Hoa Kỳ) với Phi Đoàn VA 152 của Hải quân Hoa Kỳ tại Biên Hoà, các người phi công trẻ tuổi tạm thời bay quen tay với phi cơ T28. Phi đoàn 520 đă di chuyển về B́nh Thủy giữa năm 1965 với phi cơ A 1 Skyraider và đă trở thành phi đoàn phản lực A37 thứ ba của KLVNCH năm 1968.
-
Phi đoàn 526 (Sa Tăng) được thành lập 1971 tại
B́nh Thủy phi cơ A–37B Dragonfly
Phi đoàn trưởng đầu tiên: Thiếu Tá Huỳnh
Hữu Hải
-
Phi đoàn 546 (Thiên Sứ) được thành lập cuối
năm 1972 tại B́nh Thủy phi cơ A–37B Dragonfly
Phi đoàn trưởng đầu tiên:Thiếu tá Lê Mộng
Hoan
3- Không đoàn 84 CT tại B́nh Thủy gồm :
-3 phi đoàn
trực thăng 211 B́nh Thủy,225 Sóc Trăng,227 Sóc Trăng
:UH-1
Ghi chú: Không đoàn 84 được chánh thức thành lập
tại Sóc Trăng, và sau nầy di chuyển về B́nh Thủy.
- Biệt
đội tải thương 259H UH–1 B́nh Thủy
- Phi đội tải thương 259I UH–1 Sóc Trăng
V- Sư Đoàn 5 Không quân (Sài G̣n) : Sư Đoàn 5 KQ được thành lập tháng Giêng năm 1971 tại Tân Sơn Nhất . Trưởng đầu tiên: Đại Tá Phan Phụng Tiên.
Ghi chú : Theo tài liệu [12] : Sư Đoàn 5 Không quân được thành lập năm 1971 và trở thành lực lượng Không quân trừ bị của Bộ Tổng Tham Mưu.
Sư Đoàn 5 gồm có Không Đoàn 33 và 53 .
Không đoàn chiến thuật 33 (Tân Sơn Nhất) : Được thành lập tháng Giêng năm 1964 tại Tân Sơn Nhất Tư lệnh KĐ đầu tiên: ?
1- Không
Đoàn 33 CT tại Tân Sơn Nhất gồm các phi
đoàn VIP và tải thương:
-Biệt đội tải thương 259G UH–1H
-Biệt đoàn Đặc vụ 314 với các phi cơ VC-47B ,C–47, U–17A/B Skywagon, UH–1, DC–6B, Aero Commander
-Phi đoàn Vận tải 415 C–47
-Phi đoàn 429 với phi cơ C-7A
-Phi đoàn 430 với phi cơ C-7A
-Phi đoàn
Quan sát 716 T–28A Trojan, EC–47D Dakota, U–6A Beaver, RF–5A
Freedom Fighter
-Phi đoàn 718 với phi cơ EC-47D Dakota Tân Sơn Nhất
-Phi đoàn Quan sát 720 RC–119
2-Không Đoàn 53 CT tại Tân Sơn Nhất,gồm 2 PĐ Gunship,và các PĐ vận tải:
-Biệt đội tải thương 259 UH–1
-Phi đoàn Vận tải
413 C–119 Flying Boxcar
-Phi đoàn Vận tải 421 C–123 Provider
-Phi đoàn Vận tải
425 C–130A
-Phi đoàn Vận tải 435 C–130A
- Phi đoàn 436 với phi cơ C-130A
-Phi đoàn Vận tải
437 C–130A
-Phi đoàn 819 với phi cơ AC-119G Shadow
-Phi đoàn 820 với phi cơ AC-119K
-Phi đoàn Hỏa Long 821 AC–119K Stinger Tân Sơn Nhất
VI- Sư Đoàn 6 Không quân (Pleiku) : Sư Đoàn 6 KQ được thành lập tháng 6 năm 1972 tại Pleiku.Sư Đoàn Trưởng đầu tiên:Đại Tá Phạm Ngọc Sang. Sư Đoàn 6 gồm có 2 Không Đoàn 72 và 82
1-Không Đoàn 72 Chiến Thuật: Được thành lập năm 1970 tại Pleiku .Tư lệnh KĐ đầu tiên: Trung Tá Nguyễn Văn Bé .
Không Đoàn 72 CT tại Pleiku gồm các phi đoàn:
- 1 phi đoàn quan sát 118 với các loại phi cơ: O-1, O-2, và U-17A/B Skywagon, O–2A Skymaster.
Phi đoàn Trực
thăng 229 UH–1
2 phi đoàn trực thăng 259,235: UH-1H
- 2 phi đội trực thăng tải thương 259B,259G: UH-1H
- 1 phi đoàn khu trục A1 Skyraider 530 (Thái Dương),thành lập năm 1970
Chỉ huy trưởng đầu tiên: Thiếu Tá Lê Định.
2-Không Đoàn 82 (72?) CT tại Phù Cát ,B́nh Định
KĐ Trưởng đầu tiên:Trung Tá Nguyễn văn Trương
Gồm các phi đoàn:
-Phi đội 259A trực thăng tải thương UH-1H
-Phi Đoàn 241 trực thăng Chinook CH-47A
-Phi Đoàn 243 trực thăng 243 : UH-1H
-Phi đoàn Vận tải 429 C–7 Caribou
-Phi đoàn Vận
tải 431 C–7 Caribou
- Phi Đoàn 532 (Gấu Đen) phản lực cơ A37 thành
lập năm 1971 - Phi Đ̣an Trưởng đầu tiên:
Thiếu Tá Lê Trai.
Xin ghi thêm Sơ lược về tiểu sử và nhiệm vụ các Phi đoàn Tản thương Trực thăng UH–1 KLVNCH trích từ tài liệu [12] :
Từ
năm 1972, Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa (KLVNCH) bắt
đầu lớn mạnh và phát triển.
BTLKQ đă kư quyết định thành lập 2 Phi đoàn Tản
thương cho 6 Sư Đoàn KQ, chia ra làm nhiều PHI ĐỘI,
đồn trú tại các căn cứ của KQ–QLVNCH.
Sư Đoàn 1, SĐ2 và SĐ6KQ thành lập Phi đoàn Tản
thương 257 và chia làm nhiều phi đội.
Mỗi phi đội trực thuộc 1 Không Đoàn Chiến thuật và đồn trú trong 1 căn cứ của KQ, từ Đà Nẵng về tới Phan Rang. Có danh hiệu là Cứu Tinh. Mỗi phi đội được quyền lựa chọn “call sign” riêng.
SĐ3KQ, SĐ4KQ và SĐ5KQ thành lập Phi đoàn Tản thương 259 gồm 9 phi đội: A, B, C, D,E,F,G,H,I .
Mỗi phi đội có quân số và cấp số phi cơ ngang bằng 1/2 Phi đoàn. Có BCH và văn thư hành chánh, tiếp liệu riêng như 1 phi đoàn. Phi đội của phi đoàn không có cấp số hành chánh như Phi đội Tản thương, mà chỉ thành lập bằng khẩu lệnh thôi. Phi đoàn trưởng mang cấp bậc Trung Tá.
Mỗi
Không đoàn có 1 Phi đội Tản thương. V́ thế
mới có cấp số Phi đội Tản thương
riêng. Chỉ huy Phi đội Tản thương phải
là cấp bậc Thiếu tá thực thụ.
Phi đội Tản thương luôn luôn bay một ḿnh
(always bay Solo) ngày cũng như đêm, phi vụ lệnh
24/24, và tất cả các Hoa tiêu đều có bằng Trưởng
Phi Cơ và phải có kinh ghiệm bay đêm. Trong khi Phi
đội trưởng của phi đoàn slick chỉ
đ̣i hỏi cấp bậc Trung úy, miễn là có nhiều
kinh nghiệm bay hành quân, có khả năng bay Lead dẫn hợp
đoàn bay đổ quân, và có khả năng bay C&C do Phi
đoàn trưởng và trưởng Pḥng Hành Quân cắt cử.
Phi đội Tản thương 259H & 259I tuy khác Không
Đoàn, khác văn thư, nhưng cùng đóng chung trong
CC40CTKQ, phi trường Cần Thơ. Nên Chuẩn tướng
Nguyễn Huy Ánh quyết định cho phi vụ lệnh
chung,mọi dịch vụ hoạt động đều
chung, nhưng trên giấy tờ và quân số khác nhau. Vẫn
có 2 vị Chỉ Huy Trưởng riêng rẽ. NVPH [Nhân viên
Phi hành] làm việc chung cắt bay chung .
Huy hiệu
Phi đội Tản thương 259H & 259I – Hồng
Điểu.
Huy hiệu (Logo/Insignia) PĐ259H&I này do nhân viên của phi
đội designed (họa) với châm ngôn: ‘’ Quên Ḿnh, Cứu
Người’’.
Nhiệm vụ Mỗi ngày có 8 phi vụ :
–4 Phi
vụ (4 phi cơ & 4 PHĐ) bay ban ngày từ 6 giờ
sáng cho đến 6 giờ chiều.
–4 Phi vụ (4 phi cơ & 4 PHĐ) bay ban đêm từ 6 giờ
chiều cho đến 6 giờ sáng
SĐ4KQ có 2 Phi đội Tản thương là Hồng Điểu 259H & 259I (tiền thân từ Phi đội “Dust Off” thuộc Không Lực Hoa Kỳ chuyển giao)
Các binh chủng thuộc quân đoàn IV, vùng 4CT khi nghe Hồng Điểu gọi, th́ họ biết ngay là có máy bay tản thương đến bốc thương binh về bệnh viện. (Hồng Điểu = Chim Hồng [Thập Tự]).
Các Căn Cứ Không Quân theo tài liệu [11] :
Không Quân Việt Nam cũng đă tiếp nhận 3 căn cứ của Hoa Kỳ giao lại:
1-Căn cứ 84 Chiến Thuật (Sóc Trăng): Chỉ huy trưởng căn cứ: (?)
Căn cứ 84 trực thuộc Không Đoàn 74 CT , sau nầy trở thành Không Đoàn84 CT và thuyên chuyển về B́nh Thủy.
2-Căn cứ 60 Chiến Thuật (Phù Cát):Chỉ huy trưởng đầu tiên: Trung tá Nguyễn Hồng Tuyền,
Căn cứ 60 trực thuộc Sư Đoàn 2 Không Quân và đă được sát nhập vào Sư Đoàn 6 Không Quân khi Sư Đoàn nầy được thành lập năm 1974.
3-Căn cứ 20 Chiến Thuật (Phan Rang): Chỉ huy trưởng đầu tiên: Đại tá Nguyễn đ́nh Giao,
trực thuộc Sư Đoàn 2 Không Quân và sau nầy Căn cứ 20 thuộc quân số của Sư Đoàn 6 Không Quân khi SĐ6 di tản từ Pleiku về đồn trú tại Phan Rang vào trung tuần tháng Ba năm 1975.
4-Căn cứ 40 Chiến Thuật (Cần Thơ): Chỉ huy trưởng đầu tiên:Đại tá Nguyễn văn Bé,
Căn cứ 40 trực thuộc Sư đoàn 4 KQ.
Các đơn vị Đặc Biệt theo tài liệu [11] :
1-Phi đội B 57 Canberra
Vào đầu năm 1966 KQVN, một phi đội oanh tạc cơ B57 Canberra được thành lập do Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Biện chỉ huy, phi đội nầy cũng chỉ bay được khoảng 9 tháng th́ giải tán . các phi cơ B57 được thay thế bởi phản lực cơ F-5 và A37. Một số các phi công đă được huấn luyện các loại phản lực như F-5 và A-37. Vào năm 1968, phi đoàn 524 Thiên Lôi, l phi đọn đầu tiên được chuyển ngành sang phản lực khu trục A-37.
Vào tháng giêng 1968 (trước Tết Mậu Thân 2 tuần lễ) 12 hoa tiêu của PĐ 524 đă dự khóa huấn luyện A-37 tại Hoa Kỳ sau đó lần lượt tất cả hoa tiêu của phi đoàn đều được huấn luyện bay A-37, đến tháng 10, 1968 công tác huấn luyện hoàn tất, phi đoàn 524 trở vế Việt Nam nhưng lúc nầy phi đoàn chưa nhận được khu trục cơ A-37, cho đến vài tháng sau, đợt phi cơ A-37 đầu tiên viện trợ cho Việt Nam được chở từ Mỹ về Biên Ḥa và hoa tiêu của phi đoàn 524 đă tiếp nhận phi cơ và bay về Nha Trang.
2- Biệt đoàn 83 (83rd Special Operation Group)
Khởi đầu là những phi vụ bay ra Bắc để thả các chiến sĩ Biệt Kich trong chiến dịch Cờ Trắng của Liên Phi Đoàn Vận Tải cơ căn cứ tại Tân Sơn Nhất. (các phi cũng như Trung tá Nguyễn Cao Kỳ, Trung úy Lưu Kim Cương, Trung úy Phan Thanh Vân, Trung úy Nguyễn Ngọc Khoa đă thi hành nhiều phi vụ Cờ Trắng ).Một số phi công khu trục như Trung úy Phạm Phú Quốc, Thiếu úy Nguyễn Huy Bích, Kích vơi phi cơ A1-H , cần những sự chính xác về ánh lúc tờ mờ sáng để bay tập những phi vụ nầy để sẵn sàng thi hành những phi vụ cảm tử trong tương lai nhưng chương tŕnh nầy đă bị hủy bỏ .
(Các phi vụ truy kích là để tấn công bất ngờ, hợp đoàn có thể nói lo bay sát ngọn cây để tránh tầm nh́n của địch và cũng v́ phải bay sát ngọn cây nên tầm nh́n của hoa tiêu bị hạn chế và khi sắp tới mục tiêu kéo phi cơ lên đang cao độ thà nhào xuống tấn công liền chớ không bay lượn ṿng như các phi vụ thường cho nên yếu tố thời gian cũng như hướng giờ rất quan trọng để lập phi tránh. Chỉ có cấp Phi tuần trưởng mới được phép dẫn hợp đọn thực hiện phi vụ truy kíck).
Biệt đoàn 83 đă được thành lập chính thức năm 1964 (?) tại Tân Sơn Nhất gồm có một số phi cơ C-47, một biệt đội trực thăng gồm 4 phi cơ , một phi đội trắc giặc với phi cơ L20, và phi đoàn khu trục 522 vơi phi cơ A1 Skyraider.
Những phi cơ dùng để bay ra Bắc (C47, H-34, L20,� A1) không sơn cờ hoặc dấu hiệu nào hết.Vào năm 1966, Phi đoàn 522 được gửi đi huấn luyện phản lực cơ F-5, lúc đó Biệt đoàn 83chỉ cần 8 phi cơ A1 và 16 phi cũng để bảo vệ thủ đô và thi hành những phi vụ đặc biệt ngoài Bắc.
Biệt đoàn 83 không thuộc không đoàn nào mà trực thuộc Tư Lệnh Không Quân , dưới
quyền chỉ huy trực tiếp của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Trưởng Pḥng Hành quân là Thiếu tá Lưu Kim Cương , và khi Ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh KĐ74CT th́ Đại Úy Nguyễn Ngọc Khoa thay thế.
Vào đầu năm 1968, Biệt đoàn 83 bị giải tán. do lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu v́ Ông sợ bị đảo chánh. Số phi cơ A1 và một số các phi công đó thuyên chuyển ra Phi đoàn 516 ở Đà Nẵng.
C̣n biệt đội trực thăng sau đó trở thành Phi đoàn 219 trực thuộc Không Đoàn 41CT và làm việc thẳng với Pḥng 7/BTTM. Sau nầy Phi đoàn 219 đă thuyên chuyển về Không đoàn 62 tại Nha Trang năm 1973 .
Phi vụ Bắc Phạt theo tài liệu [11] :
Vào đầu Tháng Hai 1965, KQVN đă chính thức Bắc phạt. Phi vụ đầu tiên oanh kích Vĩnh Linh do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn. Suốt hơn 3 tháng, KQVN đă cả cả trăm phi xuất oanh kích các vùng Đồng Hới , Vĩnh Linh.
Trung Tá Phạm Phú Quốc hướng dẫn 6 phi cơ A1-H trong phi vụ tuần thám (đầu tiên) Tháng Tư 1965, đă hy sinh tại phía nam Hà Tĩnh khoảng độ 10 cây số. Phi hành đoàn trong phi vụ đặc biệt nầy
Phi tuần truy kích
1. Trung tá Phạm Phú Quốc
2. Thiếu Úy Nguyễn Đức Chương
3. Đại Úy Đặng Thanh Danh
4. Thiếu Úy Trịnh Bửu Quang
Phi tuần hộ tống
1. Đại Úy Chế Văn Nghĩa
2. Thiếu Úy Trần Mạnh Khôi
Phi vụ nầy cũng đă chấm dứt chương tŕnh Bắc phạt, ngoại trừ phi đội A1 Skyraider của Biệt đoàn 83 vẫn thi hành những phi vụ đặc biệt khác ở ngoài Bắc Việt cũng như tại phía bắc của nước Lào. Trong hơn ba tháng Bắc phạt, 6 phi công đă đền nợ nước:
1. Trung Tá Phạm Phú Quốc (Hà Tĩnh)
(Phụ chú : Nhạc sĩ Phạm Duy đă viết bản nhạc Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc để tưởng nhớ Trung Tá Phạm Phú Quốc ).
2. Đại úy Nguyễn Hữu Chẩn (Đồng Hới)
3. Trung Úy Vũ Khắc Huề (Đồng Hới)
4. Thiếu Úy Nguyễn Thế Tế (Đồng Hới)
5. Thiếu Úy Nguyễn Sơn (Đà Nẵng)
6. Thiếu Úy Mai Nguyễn Hưng (Bờ Rô, Phước Long)
Ngoài ra, các phi công đă bị trúng pḥng không địch và nhảy dù:
1. Thiếu Úy Nguyễn Quốc Đạt bị địch bắt và cầm tù ngoài Bắc cho đến năm 1972.
2. Thiếu Tá Dương Thiệu Hùng nhảy dù tại Mỹ Khê, Đà Nẵng.
Phi cơ được gia tăng tối đa , địch quân đă dùng hoả tiễn tầm nhiệt SA7, đại bác 37ly, và đại bác 57 ly có hệ thống radar hướng dẫn chống lại các phi cơ của ta. Nhưng và nhu cầu chiến trường, vào đầu tháng Tư 1975, bốn phi cơ Skyraider của SĐ 3KQ do Thiếu tá Lê Thuận Lợi chỉ huy , đă bay ra Phan Rang để yểm trợ chiến trường vùng nầy và một phi cơ A1 đă bị pḥng không địch bắn hạ vào sáng 16 tháng Tư 1975 khi Cộng Quân tấn công vào thành phố Phan Rang, và phi công Thiếu tá Trần Sĩ Công đă đền nợ nước. Và chiếc Skyraider sau cùng hy sinh trong chiến cuộc Việt Nam của Thiếu Tá Trương Phong đă trúng đạn của việt cộng trong sáng ngày 30-4-1975 trên ṿng trời Sàig̣n.
Danh sách các Tư Lệnh qua các thời kỳ theo tài liệu [3] & [9] & [12] :
1 Nguyễn Khánh Trung tá : 1955 -Phụ tá cho Tổng Tham mưu trưởng, Phụ trách Không quân. Cấp bậc sau cùng: Đại tướng.
2 Trần Văn Hổ (KQ) Thiếu tá : 1955-1957 -Tư lệnh đầu tiên. Sinh năm 1928 tại Chợ Lớn, tên quốc tịch Pháp là Paul. Được thăng vượt cấp từ Trung úy lên Thiếu tá, Trung tá (1955) và Đại tá (1956).
3 Nguyễn Xuân Vinh Trung tá : 1957-1962 -Sinh năm 1930 tại Yên Bái. Thăng cấp Đại tá (1961). Thất sủng sau Vụ đánh bom Dinh Độc Lập 1962. Xin giải ngũ sang Hoa Kỳ du học, về sau là Tiến Sĩ Vật Lư phục vụ trong ngành Khoa học Không gian của Hoa Kỳ.
4 Huỳnh Hữu Hiền : 1962-1963 -Sinh năm 1930. Trung Tá Thăng cấp Đại tá (1963). Năm 1964 giải ngũ chuyển sang làm phi công Hàng không Dân dụng.
5 Đỗ Khắc Mai Đại tá :1963-Được thăng vượt cấp từ Thiếu tá lên Đại tá (1963).
6 Nguyễn Cao Kỳ : 1963-1967-Tháng 12/1963, Quyền Tư lệnh Không quân đến tháng 3/1964 chính thức Tư lệnh, tháng 7/1964 kiêm Chỉ huy trưởng Không đoàn 83 Đặc nhiệm (tức Biệt đoàn 83 Thần Phong). Năm 1965 giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (Thủ tướng) nhưng vẫn kiêm Tư lệnh Không quân đến 1967. Cấp bậc sau cùng: Thiếu tướng.
7 Trần Văn Minh : 1967-1975-Cấp bậc sau cùng: Trung tướng. Trong QLVNCH có hai Trung tướng cùng họ và tên, nên để phân biệt mỗi ông có một biệt danh đi kèm với tên: Minh Lục quân và Minh Không quân. Tướng Minh Lục quân sinh năm 1923, năm 1965 giữ chức vụ Tổng Tư lệnh Quân lực (Tổng Tham mưu trưởng), hơn tướng Minh Không quân 9 tuổi và được thăng cấp Trung tướng (1957) trước tướng Minh Không quân 11 năm.
8 Nguyễn Hữu Tần Chuẩn tướng : 1975-Tư lệnh Sư đoàn 4 Không quân đồng thời là quyền Tư lệnh Không quân sau cùng (Ngày 29/4/1975)
Các Chỉ Huy nổi tiếng : Nguyễn Khánh , Trần Văn Hổ, Nguyễn Xuân Vinh, Huỳnh Hữu Hiền, Nguyễn Cao Kỳ và Trần Văn Minh
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ Tư lệnh Quân chủng Không Quân tại sân bay Biên Ḥa năm 1967 – H́nh trích từ tài liệu [10]

Thiệp chúc Tết của Không Quân VNCH-Năm không xác định - H́nh trích từ tài liệu [7]
Theo tài liệu [3] :
Vào thời điểm 28/1/1973, Không Lực Việt Nam Cộng ḥa có 2.073 máy bay các loại: 79 A-1, 248 A-37, 66 C-119G/K, 32 C-130, 239 O-1, 35 O-2, 24 T-37, 10 U-6, 85 U-17, 19 C-123, 56 C-7, 76 C-47, 24 T-41, 70 CH-47, 859 UH-1, 151 F-5 A/B/E
Phi cơ sử dụng theo tài liệu [3] :
Cường kích : MD 315 Flamant, T-28 ,A-1, A-37,AC-47, AC-119G/K
Tiêm kích F8F Bearcat, F-5A/B/C/E
Trinh sát RF-5A, MS 500 Criquet, O-1 Bird Dog, O-2 Skymaster ,U-6, U-17
Huấn luyện PL-2, T-6, T-28,T-41, T-37, H-13
Vận tải MD 315 Flamant, C-45,Aero Commander, C-47,DC-6, C-7 ,Caribou ,C-119, C-123,C-130, Alouette II, Alouette III,H-19, UH-1,H-34, CH-47
Bộ Tư lệnh và các đơn vị trực thuộc tháng 4/1975 theo tài liệu [3]
1 Trần Văn Minh -Trung tướng : Tư Lệnh
2 Vơ Xuân Lành Thiếu tướng : Tư Lệnh Phó
3 Vơ Dinh Chuẩn tướng : Tham Mưu Trưởng
4 Đặng Đ́nh Linh Chuẩn tướng : Tham Mưu Phó Kỹ Thuật
5 Từ Văn Bê Chuẩn tướng : Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy KỹtThuật và Tiếp Vận
6 Nguyễn Ngọc Oánh Chuẩn tướng : Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện
7 Nguyễn Văn Ngọc Đại tá : Tham Mưu Phó Hành quân
8 Đinh Văn Chung Đại tá :Chiến Tranh Chính trị -Tham Mưu Phó
9 Nguyễn Khắc Ngọc Đại tá : Tham Mưu Phó Tiếp vận
10 Nguyễn Văn Ba Đại tá : Tham Mưu Phó Nhân Viên
11 Vũ Văn Ước Đại tá : Trưởng Pḥng Hành Quân
12 Huỳnh Minh Quang Đại tá : Trưởng Khối Hành Chánh
13 Hà Dương Hoán Đại tá : Tham Mưu Phó Tài Chính & Thống Kê
14 Nguyễn Hữu Thôn Đại tá : Trưởng Khối Nhân Viên
15 Đặng Hữu Hiệp Đại tá : Phụ Tá An Ninh Quân Đội
16 Cao Thông Minh Đại tá : Truyền Tin Điện Tử
17 Lê Minh Luân Đại tá : Trưởng Khối Kế Hoạch Chiến Lược và Chiến Thuật
18 Phạm Duy Thân Đại tá : Phụ tá Truyền Tin
19 Đào Huy Ngọc Đại tá : Chỉ huy Tổng Hành Dinh
20 Nguyễn Đức Khánh Chuẩn tướng : Tư lệnh Sư đoàn 1
21 Nguyễn Văn Lượng Chuẩn tướng : Tư lệnh Sư đoàn 2, Tư lệnh phó: Đại tá Phan Quang Phúc
22 Huỳnh Bá Tính Chuẩn tướng : Tư lệnh Sư đoàn 3
23 Nguyễn Hữu Tần Chuẩn tướng : Tư lệnh Sư đoàn 4
24 Phan Phụng Tiên Chuẩn tướng : Tư lệnh Sư đoàn 5 ,Tư lệnh phó: Đại tá Đinh Thạch On
25 Phạm Ngọc Sang Chuẩn tướng : Tư lệnh Sư đoàn 6,Tư lệnh phó: Đại tá Lưu Đức Thanh
Theo tài liệu [8] : Rất nhiều chiến sĩ Không Quân Việt Nam, phi công trực thăng, khu trục, vận tải, quan sát cơ đă hy sinh, đền nợ nước, khi tuổi đời vừa đôi mươi. Xin thành kính tưởng niệm và tri ân anh linh các Niên Trưởng và Chiến Hữu Không Quân Việt Nam đă đi vào ḷng đất Mẹ, v́ Chánh Nghĩa Quốc Gia, Chính Thể Cộng Ḥa và Lư Tưởng Tự Do, Dân Chủ.
Như bao chiến hữu Nhảy Dù, Biệt Kích, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Hải Quân, Người Nhái…phần đông anh em phi công sau khi tốt nghiệp đều thích chọn những đơn vị tác chiến, trực diện với đối phương. Họ xung phong bay trực thăng ở cao độ thấp, thả anh em Biệt Kích Dù ngay trong ḷng địch. Nhiều phi công khu trục hăng hái lên đường theo biệt đoàn thực hiện các phi vụ Băc Tiến, lắm người đă hy sinh v́ hoả lực pḥng không của địch như các anh Phạm Phú Quốc, Vũ Khắc Huề…Năm 1963, trong một phi vụ thả Biệt Kích trên đất Bắc ban đêm, máy bay vận tải C 47 trúng đạn rớt, anh Phan Thanh Vân, phi công trưởng cùng phi hành đoàn và lính Biệt Kích Dù bị trọng thương và bắt sống, cầm tù hàng chục năm, nhiều đồng đội đă bị giết chết ngay hôm ấy.
Nhiều trường hợp t́nh nguyện bay thế lúc t́nh h́nh khẩn cấp đ̣i hỏi, như Chuẩn tướng Nguyễn Huy Ánh, Tư lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân ở Cần Thơ đă đích thân lái trực thăng đi câu một phi cơ quan sát lâm nạn, v́ lúc đó cần một phi công dày dạn kinh nghiệm như ông mới đảm nhiệm được phi vụ tử thần ấy. Chuẩn Tướng Ánh đă tử thương v́ trực thăng do ông điều khiển chẳng may bị mất cân bằng, khi gặp sức gió quá mạnh đánh bật máy bay quan sát đang được ông câu lên để chuyển về căn cứ. Giây cáp cột máy bay bị đứt th́nh ĺnh, quấn vào đuôi trực thăng ông đang điều khiển, làm máy bay đâm xuống đất. Cố Thiếu tướng Không Quân Nguyễn Huy Ánh hy sinh v́ Tổ Quốc ngày 27 tháng 4 năm 1972 tại chiến trường Quân Khu IV, hưởng dương 38 tuổi.
Cũng có nhiều chiến hữu Không Quân được xét thăng cấp, chưa kịp “rửa lon” ăn mừng, chưa được gắn cấp bậc mới đă lên đường ra chiến tuyến truy kích hàng loạt các chiến xa Miền Bắc vượt vĩ tuyến, tiến vào đất Quảng Trị trong Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, và đă hy sinh.
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa - Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân .
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_Kh%C3%B4ng_l%E1%BB%B1c_Nha_Trang Trung Tâm Huấn Luyện Không Lực Nha Trang .
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%B4ng_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa .
4. https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/cuu-svsq-le-van-choc-va-nhung-ngay-dau-trong-khong-quan-vnch/ Cựu SVSQ Lê Văn Chóc và những ngày đầu trong Không Quân VNCH - Lâm Hoài Thạch/Người Việt- March 8, 2025 .
5. https://dongsongcu.wordpress.com/2016/05/29/trung-tam-huan-luyen-khong-quan-nha-trang/ ḍng sông cũ Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang- Cái Nôi Của Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa - Đằng Vân - Virginia, mùa Đông năm 2003 - Posted on May 29, 2016 by dongsongcu .
6. https://linhvnch.wordpress.com/tr-tam-huan-luyen-kqvn/ Tr.Tâm Huấn Luyện KQVN - Đằng Vân- Virginia, mùa Đông năm 2003 .
7. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ – 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm.
8. Bảy Năm Phục Vụ Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa 1968-1975 của Đào Hiếu Thảo – chúc mừng tác phẩm mới - Đào Hiếu Thảo/ Đỗ Hiếu - Bảy năm phục vụ Không Quân Việt Nam Cộng Hoà 1968-1975 .
9. https://vnchtoday.blogspot.com/2019/01/qlvnch-quan-trucsu-khong-quan-cac-giam-oc.html QLVNCH: Quân sử Không Quân – Các Giám Đốc Trường (Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang) - Sunday, January 27, 2019 - Ngày 24 tháng 10 năm 2001 -Posted by Thoi Chinh Chien .
10. https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) .
11. https://linhphuongngoc.tripod.com/id63.html Giai đoạn H́nhThành - Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa - Huỳnh Minh Quang & Trần Minh Khôi ,
12. https://nhayduwdc.org/st/hhqlvnch/hhkq/hhBCKQQLVNCH_2013JUL03.pdf Bài viết: Tác giả Tarin65. Trúc Lâm Yên Tử giới thiệu- Phụ chú: Tác giả “VNAF Miệt Dưới” - H́nh ảnh: Lê Thu Vân - Kiểm chứng các Huy hiệu KQVNCH: Mevo Phạm Ngọc Ninh – July 2014 .
6- Trường Quân Y Việt Nam Cộng Ḥa – Hà Nội & Sàig̣n
Trường Quân Y Việt Nam Cộng Ḥa được thành lập vào năm 1951 tại Hà Nội,đến năm 1954 thỉ di cư vào miền Nam tại các địa điểm tạm thời ở Bến Chương Dương (hay Bến Bạch Đằng) , ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, ở số 4 đường Hùng Vương và khoảng sau năm 1963, dời về cơ sở mới xây cất tọa lạc trên đường Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn (sau chợ cá Trần Quốc Toản, Chợ Lớn).
Theo tài liệu [1] & [2] :
Trường Quân Y Việt Nam Cộng Ḥa, là một cơ sở đào tạo, huấn luyện các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ trong các ngành Y Khoa,Dược Khoa và Nha Khoa để phục vụ cho tất cả các Quân, Binh Chủng và các đơn vị khác trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Trong nhiều trường hợp, một số các Bác Sĩ Quân Y cũng phục vụ cho dân sự .
Trường được đặt dưới sự điều hành của Tổng cục Quân Huấn trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu.
Kỳ hiệu Trường Quân Y Việt Nam Cộng Ḥa - H́nh trích từ tài liệu [1] & [3] :
Khẩu hiệu của Trường Quân Y : Quên Ḿnh-Cứu Người
Sau đây là lịch sử h́nh thành Trường Quân Y Việt Nam Cộng Ḥa theo tài liệu [4] bổ túc với các tài liệu [1] &
(Chú thích : Tài liệu [4] ghi lại kư ức của một cựu nhân viên, ông Hoàng Viết Khánh vào làm việc từ ngày Trường Quân Y mới thành lập năm 1951 nhưng chính thức kể từ ngày 01 tháng 02 năm 1952.Ông đă làm việc liên tục trên 20 năm với trường Quân Y ,phần lớn với Tiểu Đoàn Sinh Viên Quân Y. Ông là chứng nhân của nhiều thay đổi liên quan tới Trường. Ngoài ra c̣n có rất nhiều chi tiết lư thú về đời sống sinh viên trong Trường).
Trích từ tài liệu [4] :
‘’ Trường Quân Y được thành lập khoảng tháng 8 năm 1951 tại biệt địa của Phủ Toàn Quyền tại Hà Nội.Pḥng ốc chả có ǵ cả lúc tiên khởi, chỉ có văn pḥng của ông Chỉ Huy Trưởng, một pḥng khác là pḥng ông Ch́ Huy Phó người Pháp tên Receveur. Ngoài tôi ra (ông Hoàng Viết Khánh ) c̣n có một ông Trung Úy hành chánh và một ông Chuẩn Úy lo các giấy tờ và một vài người khác.
Chỉ có 5 tháng sau đó ,Trường mua được bệnh viện Patterson ở Phố Vườn Chuối (phố Hàng Chiếu theo tài liệu) , gần Viện Pasteur Hà Nội, nên dọn về đó. Đây là một bệnh viện tư của Bác Sĩ Patterson. Bệnh viện nhỏ như dưỡng đường của Bác Sĩ Lê Vắn Miêng trên đường Lê Văn Duyệt,Quận 3,Sài g̣n.
Nhà thương Patterson là một ngôi nhà 2 từng kiến trúc kiểu Pháp, ở trong ngăn ra làm nhiều pḥng,tùy theo lớn nhỏ cũng như cho bệnh nhân, có pḥng chứa 1 người, pḥng th́ 2 hay 3. Sau này cất thêm 1 tầng thứ 3 cho nên được 1 số pḥng nừa, nhưng không có pḥng nào chứa quá 4 người. Do đó SVQY thời bấy giờ có chỗ học hành tương đối dễ chịu.
Lúc mới về, chúng tôi (ông Hoàng Viết Khánh ) thuê làm một bảng mang tên ‘’Trường Đại Học Quân Y Trung Ương’’ , tiếng Pháp là ‘’École principale du Service Santé Militaire’’.
Giám đốc đầu tiên là Bác Sĩ Phạm Biểu Tâm ,lúc đó là Trung Tá Y Sĩ. Sau đó Bác Sĩ Tâm là Bác Sĩ Nguyễn Đ́nh Hào th́ phải.
(Xem thêm tiểu sử Bác Sĩ Phạm Biểu Tâm trong bài Viện Đại Học Sài g̣n và các Phân khoa trực thuộc trước năm 1975 - Phân khoa Y Khoa (Trường Đại Học Y Khoa) của cùng tác giả) .
Bênh viện Patterson chỉ là nơi để Sinh Viên Quân Y (SVQY) nội trú. Họ thực tập ở nhà thương Cống Vọng và nhà thương Phủ Doăn. Ngoài ra họ c̣n học lư thuyết tại Trường Đại Học Y Khoa ,c̣n gọi là Trường Thuốc.

Các sinh viên khóa 1 Trường Đại Học Quân Y đang diễn hành tại Hà Nội. Đi đầu là Y Sĩ Thiếu Tá Trần Anh Giám Đốc Học Vụ. Người cầm cờ là Bác Sĩ Hoàng Văn Đức, cạnh Bác Sĩ Đức là Bác Sĩ Trần Kim Tuyến
(Phụ chú :
Ø Tài liệu [4] không có ghi năm diễn hành. Tuy nhiên dựa vào tài liệu [5] & [6] & [7] đó là năm 1952 ;
Ø Theo tài liệu [8] : Bác Sĩ Trần Kim Tuyến thuộc Quân Y khóa 1, tốt nghiệp năm 1955, ra đơn vị phục vụ chừng một năm rồi được điều về Phủ Tổng Thống (Ngô Đ́nh Diệm) đặc trách Sở Nghiên Cứu Xă Hội Chánh Trị phủ Tổng Thống và từng trực tiếp làm việc với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu. Tuy chức vụ bề ngoài chỉ là một giám đốc một sở Nghiên Cứu Xă Hội Chánh Trị nhưng vai tṛ của ông trong ngành t́nh báo của chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa rất quan trọng. Trước cuộc đảo chánh năm 1963, ông được cử đi làm Tổng Lănh Sự Việt Nam tại Ai Cập… Sau năm 1975, ông kịp thoát thân ra hải ngoại và định cư tại Luân Đốn, Anh Quốc).
Hồi Trường mới thành lập, chỉ có khoảng 2, 3 chục Sinh Viên . Ngoại trừ Bác Sĩ Hoàng Văn Đức v́ có gia đ́nh nên ở ngoại trú, c̣n phần lớn ở Nội Trú.
Lúc mới thành lập Bác Sĩ Chỉ Huy Trưởng h́nh như Nguyển Đ́nh Hào có cho người ta thầu nấu ăn. Nhưng bà thầu rất quan cách.Tới bữa ăn phỉa có xe đến nhà là bà ta để mang cơm về .Nhưng về sau có chuyện tai tiếng, nhà Trường bắt các sinh viên tự lo việc ăn uống. Thời đ̣ ăn bữa nào cũng như ăn cổ. Cơm gạo Tám .Sáng thí có bánh ḿ, có cà phê sữa, có phó mát, gần như không thiếu thức ǵ . Sinh viên hồi đó đóng bao nhiêu tiền chúng tôi không được rơ. Ăn uống nói tóm lại rất sung sướng.

Sinh viên đang ăn cỗ thường ngày.Người ngồi hàng cuối cùng có ṿng ở cổ là viên Phạm Hà Thanh ,sau là Chuẩn Tướng – H́nh trích từ tài liệu [4]
Vị Chỉ Huy Trưởng th́ ít ngó tới đời sống sinh viên nhưng Đại Úy Phó Giám Đốc người pháp là Bác Sĩ Receveur rất chú trọng. Ông ta quan tâm đến mọi chi tiết . Ví dụ : Không sáng nào Bác Sĩ Receveur không đến thăm pḥng ốc sinh viên. Ông ta chăm nom từ nơi ăn chốn ngũ. Đời sống sinh viên rất quy củ.
Hồi đó Bác Sĩ Receveur có làm 1 căn pḥng ỡ lầu ba có mái lợp tôn ,trên đó có đủ tiện nghi cũng như phương tiện giải trí chỉ có cái là hơi nóng. Sinh viên Phạm Hà Thanh sau làm Chuẩn Tướng , từng bị nhốt ở pḥng này .
Ông Hoàng Viết Khánh làm việc ở bệnh viện Patterson tới ngày di cư vào Nam (sau Hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954?)
Chúng tôi được lệnh vào Nam thật bất ngờ. Bổng nhiên được lệnh phải đóng đồ cấp tốc để vào Nam. Ngoài cái khổ phải rời quê cha đất tổ, nơi chôn nhau cắt rốn, c̣n bị người ở lại chế riễu.
Chúng tôi nhân viên của Trường Quân Y khi ra đi chỉ mang mỗi người một (1) va li, ngoài vợ con bồng bế để tiện lên máy bay.Đồ đạc của Trường th́ đóng thùng gởi vào Nam bằng tàu thủy. Chỉ khó là v́ thiếu thùng,sách của thư viện phài gửi vào tủ của các sinh viên, lúc đến Sài g̣n bị chúng nó cạy , mất khá nhiều.
Lúc có lệnh di cư, sinh viên Quân Y đang học quân sự tại Đà Lạt . Nên ngoài vật dụng cá nhân đă gửi gia đ́nh mang vào, các sinh viên này sau khi học quân sự tại Đà Lạt , vào Sài g̣n , không trở ra Hà Nội.
Bước xuống máy bay chúng tôi được xe đến rước.Xe chạy ṿng qua một cái chợ thật lớn mà người ta bảo là chợ Cầu Ông Lănh,chúng tôi được chở đến một căn nhà 2 tầng h́nh như dành làm Nha Quân Y.
Từng trên làm văn pḥng,c̣n từng dưới nhân viên chia nhau ở.Cạnh đó cũng có môt ngôi nhà 2 tầng làm xưởng gổ.
Ngôi nhà 2 tấng kể trên nằm trên đường Cầu Kho, Bến Chương Dương. Chúng tôi dùng nửa tầng dưới làm văn pḥng. Nói là văn pḥng thật ra chẳng có ǵ cả, chúng tôi và vài vị sĩ quan phài trải chiếu ra làm sổ sách v́ lúc ấy gần kỳ lương phải chuẩn bị để lên phát cho quư vị sinh viên ở Đà Lạt.
Mặt khác ,theo tài liệu [1] : Sau Hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, Trường di chuyển vào Nam đặt trụ sở tại Bến Bạch Đằng, Sài G̣n và đổi danh xưng thành Đại học Quân Y.
Sau đó vài tháng trụ sở Trường Đại Học Quân Y dời về một căn nhà cách chổ cũ độ 40-50 thước. Riêng chúng tôi vẫn tá túc nơi căn nhà 2 từng .Chổ trụ sở mới h́nh như trước kia làm nơi huấn luyện cho y tá.
Sau đó đúng một (1) năm, Trường Đại Học Quân Y dọn về đương Nguyễn Bỉnh Khiêm gần Sở Thú, gần trường Nử Trung Học Trưng Vương.Ở đây một thời gian khá lâu, độ 1 năm ,Trường di chuyên đến Trại Pétrus Kư ở số 4, đường Hùng Vương.Lúc này Trường Đại Học Quân Y được giải tán và sát nhập với Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y Tá để thành lập Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y. Ở Trại Pétrus Kư chúng tôi được cấp 7,8 dăy nhà mà người ta bảo trước kia dùng làm Chuồng ngựa.
Hơn nửa,theo tài liệu [1] : Năm 1956, trường lại đổi danh hiệu thành Trung tâm Huấn Luyện Quân Y do sáp nhập Đại học Quân Y với Trung Tâm Huấn Luyện Y Tá, đặt cơ sở tại Quân Y Viện Chi Lăng, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài G̣n. Sau đó dời về số 4 đường Hùng Vương, Chợ Lớn.
(Phụ chú : Tháng 7 năm 1947, khu đất trường École Normale d' Instituteurs ở số 7 (số 3?)- đường Nguyễn Bỉnh Khiêm-Quận 1-Sàig̣n , trở thành Quân Y Viện Coste của quân đội Pháp. Dưới thời Việt Nam Cộng Ḥa, quân y viện này được đổi thành Quân Y viện Chi Lăng. Năm 1954 (hay 1955?), chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa chia khu vực trường École Normale d'Instituteurs ( hay Quân y viện Chi Lăng ?) thành 3 phần: dăy nhà bên trái là trường Trưng Vương (dành cho Nữ sinh), phần giữa là Nha Tổng Giám Đốc Trung Học (sau này là Nha khảo thí, lo việc thi cử ở bậc Trung Học), dăy bên phải góc Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du là trường Vơ Trường Toản (dành cho Nam sinh). Xem thêm chi tiết về trường École Normale d' Instituteurs trong bài Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 - École Normale d'Instituteurs (École Normale) của cùng tác giả).
Ở Hà Nội trước khi di cư, Bác Sĩ Đinh Văn Thắng làm giám đốc.Khi trường đổi vào Nam, Bác Sĩ Đinh Văn Thắng ở lại ngoài Bắc, Bác Sĩ Trần Anh được chỉ định thay thế.

Y Sĩ Thiếu Tá Trẫn Anh và Bác Sĩ Receveur- H́nh trích từ tài liệu [4]
Khi Trung Tâm Tâm Huấn Luyện Quân Y được thành lập và dọn về Chuồng Ngựa, Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Tăng Nguyên được bổ nhiệm giữ chức Chỉ Huy Trưởng. Lúc đó khoảng tháng 02 năm 1956 .
Từ ngày thành lập cho đến nay kể cả Y Sĩ Đại Úy Lê Phước Thiện chỉ làm Quyền Chỉ Huy Trưởng trong thời gian không quá 2 tháng,Trường Quân Y đă qua 13 đời Chỉ Huy Trưởng.Trong số các vị này, Bác Sĩ Hoàng Văn Đức đă để lại một ấn tượng sâu sa . Bác Sĩ Đức là người có tài và rất thích hoạt động. Dưới thời Bác Sĩ Đức hằng tháng có tổ chức những buổi tiệc với sự tham dự của toàn thể sinh viên Quân Y, lúc cơm Tây, lúc cơm Ta. Sinh viên vừa ăn vừa được nghe những nhân vật danh tiếng nói chuyện.Phó Tổng Thống thời đó cũng có đến một lần.
Có lẽ từ lúc di cư vào đây cho đến năm 1972 là giai đoạn trầm nhất (thăng trầm) của Trường Quân Y. Sinh viên Quân Y ,ngoài những buổi lễ lạc ,chỉ đến Trường để hàng tháng lănh lương và chào cờ hàng tuần. C̣n lại không ǵ đáng kể. Trường chỉ thực sự sống động lại từ ngày Y Sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân về nhậm chức Chỉ Huy Trưởng. Tôi có thể nói Đại Tá Lân đă rập y khuôn mẫu của vị Bác Sĩ Receveur thời xưa ngoài Hà Nội.Nhắc lại tôi thấy vẫn thấy cảm động.
Trong 20 năm làm việc tại Trường, nếu tôi được nói thẳng : Trường Quân Y có thay đổi từ nhà cừa nhỏ bé ở Hà Nội đến các doanh trại đồ sộ như ngày hôm nay. Nhưng có một điều không thay đổi, tôi nhận thấy sinh viên Quân Y không có tinh thần đoàn kết’’.
Sau đây là hai tài liệu [9] & [10] viết thứ tự bởi Bác Sĩ Hà Mạnh Tuấn và Bác Sĩ Lê Ánh, cựu sinh viên vào ngành Y Khoa Quân Y năm 1959; Hai tài liệu này cho thấy những cơ sở vật chất của Trường Quân Y và điều kiện học tập và sinh hoạt của sinh viên vào thời điểm này .
Trích từ tài liệu [9] :
‘’Năm 1960 , Tôi (Bác Sĩ Hà Mạnh Tuấn ) xong luôn Tú Tài 2 .Học ǵ & Về sau sẽ định làm nghề ǵ? Câu hỏi đó chắc chắn quanh quẩn trong đầu những anh Tú (Tài) chúng tôi Nay có thằng con phân vân không biết học ngành ǵ th́ h́nh ảnh người anh năm xưa lại hiện lên nên một hôm má tôi tự dưng đề nghị : “Sao con không theo nghề của Bác Đốc?”
Một phần
thương mẹ, một phần cũng khoái cái nghề
cao quư đó, tôi bèn ghi tên học chứng chỉ PCB (Physique,
Chimie, Biologie) ở Đại học Khoa Học Sài g̣n niên
khoá 1960-1961.
C̣n nguyên nhân nào vào Quân Y th́ hoàn toàn không c̣n nhớ tại sao
và do ai. Một cái “lỗ” lớn trong đầu như thế
th́ đáng trách thật. Chỉ biết rằng Nha Quân Y
(chưa gọi là Cục Quân Y) đối diện với Tổng
Y Viện Cộng Hoà. Tôi dắt xe gắn máy qua một cổng
nhỏ có lính gác, rồi theo lời chỉ dẫn đến
gặp một quân nhân đang ngồi giữ một cuốn
sổ ghi tên các thí sinh kỳ thi tuyển vào lớp PCB, lấy
hồ sơ…
Địa điểm thi là Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y, số 4 đường Hùng Vương. Sau này ở đây mới đổi tên thành Trường Quân Y. Đây là một doanh trại rất cũ, h́nh như ngày xưa là chỗ nuôi ngựa của quân đội Nhật Bản.
(Phụ chú : Theo tài liệu [11] : Trong trại Ô-Ma (sau là Tổng Nha Cảnh Sát) đường Vơ Tánh có một Sở Nuôi Ngựa (Haras) của nhà binh Pháp, trong khi đó Sở Nuôi Ngựa xa-vinh (civil-dân sự) mới lập đâu lối năm 1913 . Vậy th́ khu Chuồng Ngựa có thể là một trong hai Sở Nuôi Ngựa này) .
Cơ sở này chỉ có hai mặt là giáp đường cái thôi. Một mặt ngó ra đường Lư Thái Tổ, có một cổng sắt to đen hoen rỉ, cây cối ḅ leo phủ gần hết v́ từ lâu đóng kín, không sử dụng được, chỉ c̣n mặt tiền kia làm cổng chinh, đâm thẳng ra đường Trần B́nh Trọng. Cổng này cũng đơn sơ gồm một cửa lớn hai cánh rộng chừng 6 thước để xe ô tô ra vào. Bên cạnh là một cổng nhỏ bề ngang chừng 1 mét rưỡi để xe gắn máy xuất nhập doanh trại. Chính tại cổng nhỏ này về sau anh em Sinh Viên Quân Y chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm. Sau chiếc cổng nhỏ là cái đồn canh, trong đó lúc nào cũng có một Hạ Sĩ Quan gác và thường hay kèm theo các khóa sinh y tá trực.
Con đường từ cổng chinh chạy thẳng chừng 300 mét là đụng cái cổng trổ ra đường Lư Thái Tổ đă khoá, bên phải là hàng rào giáp ranh với vườn tược của một biệt thự rộng mênh mông, trực thuộc Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến, bên trái mới là cơ ngơi của Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y.
Đó là hơn mười dăy nhà trệt nằm song song nhau, ngang chừng 6 mét, dài hơn 30 mét. Dăy đầu tiên là pḥng trực Sĩ Quan, kế đến là Văn pḥng của Chỉ Huy Trưởng và các Sĩ Quan hành chánh điều hành.
Dăy này chúng
tôi ít khi lui tới ngoại trừ tháng tháng đến lănh
lương.
Dăy kế tiếp là những văn pḥng lo về hành chánh,
thư viện, những lớp học, bệnh xá… Xa tít về
phía đường Lư Thái Tổ là những dăy nhà dùng làm
nơi ăn, ở của khoá sinh. Chính nơi đây sau này
là chỗ nội trú cho những Sinh Viên Quân Y chúng tôi.
Tôi không nhớ bao nhiêu sinh viên dự kỳ thi tuyển này.
Chỉ thấy các sĩ quan đến coi thi ra vào, trong
đó, tôi c̣n nhớ đến bây giờ một ông Đại
Uư rất bảnh trai và dễ thương, sau này mới biết
đó là Y Sĩ Đại Uư Nguyễn Kiển Ngọc (giờ
đă thất lộc).
Tôi được trúng tuyển kỳ thi này. Theo trí nhớ, có tất cả là 30 người trúng tuyển :
Lê Ánh; Bùi Quang Chương; Đoàn Văn Đạo; Vũ Văn Giảng; Nguyễn Thanh Hà; Lê Thanh Liêm; Châu Hoài Mạnh; Hà Khắc Nhân; Nguyễn Xuân Phô; Dương Mạnh Tài; Nguyễn Hùng Anh; Lê Văn Công; Phạm Hữu Gia; Đỗ Văn Hiếu; Nguyễn Đức Long; Nguyễn Tấn Nghiệm; Lê Hồng Pháp; Lê Hữu Phương; Lê Bá Thi; Lê Đ́nh Thuấn; Nguyễn Kim Tính; Nguyễn Phước Trọng; Hà Mạnh Tuấn; Nguyễn Đ́nh Văn; Phạm Gia Thuần; Trần Văn Tính; Nguyễn Thế Truyền; Nguyễn Văn Tựu; Trương Văn Xem.
Nhóm 30 mạng sinh viên đeo lon Thượng sĩ này rất đa dạng. Không những tuổi tác chênh lệch, mà c̣n t́nh trạng lư lịch, gia đ́nh, cũng như tŕnh độ, nhất là ngoại ngữ cũng khác nhau rất nhiều. Trong chúng tôi có các anh từng là hạ sĩ quan các binh chủng khác nhau, có anh là sĩ quan, có anh học chương tŕnh trung học Pháp như Jean-Jacques Rousseau, Yersin (Đà Lạt)..., các trường do các sư huynh điều khiển như Taberd, Mossard (Thủ Đức), Pellerin (Huế), một số anh xuất thân từ Trường Thiếu Sinh Quân (Vũng Tầu), c̣n các anh học trung học Việt nam như Petrus Kư, Chu Văn An, Vơ Tánh (Nha Trang), Nguyễn Đ́nh Chiểu (Mỹ Tho), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng) th́ chiếm đa số...
Chúng tôi được phân phối trong bốn dăy nhà trệt cuối cùng của doanh trại, sát đường Lư Thái Tổ. Có pḥng khá rộng th́ 4 anh ở chung, hẹp th́ 2 anh, hoặc vài pḥng nhỏ chỉ ở được 1 anh mà thôi. Cuối mỗi dăy có 1 pḥng tắm chung gồm nhà vệ sinh và 1 hồ nước rất lớn, lúc nào cũng đầy nước. Những dăy nhà cách nhau 1 sân cỏ rộng chừng 5 thước. Pḥng nào cũng 1 cửa ra vào và vài cửa sổ nhưng trong pḥng không được sáng mấy v́ là nền xi-măng, trần thấp, nhất là đồ đạc trong pḥng toàn bằng gỗ tạp, ọp ẹp sơn một mầu nâu đậm...
Mỗi người được cấp phát 1 giường sắt ḷ xo, có nệm độn cỏ, 1 tủ đứng 1 cánh hoặc 2 cánh (tùy anh nào nhanh tay “xí” trước), 1 bàn học có ngăn kéo, 1 cái ghế tựa... Thật ra thế là quá đủ cho 1 sinh viên nội trú rồi. Sau này vào giữa năm học, căn buồng chung đă tối lại càng tối hơn. Lư do là các anh muốn riêng tư học hành đă tự động giăng những tấm drap trải giường trên dây thép từ trên trần xuống đến đất để ban đêm ánh sáng của những ngọn đèn học không “làm phiền anh em đang cần yên lặng nghỉ ngơi”. Những anh ở xa cửa ra vào nhiều khi phải vạch hai ba lớp màn mới tới được “pḥng” của ḿnh. Nếu so với các quân trường khác, chúng tôi sướng như tiên v́ không có màn khám pḥng như Trường Vơ bị Thủ Đức hay Đà Lạt.
Ngày nhập
ngũ được tính là ngày 1 tháng 9 năm 1960. Cấp bậc
là Thượng Sĩ Hiện Dịch; lẽ dĩ nhiên
được lănh lương theo cấp bậc, như mọi
người lính khác trong quân đội.
Cấp bậc cao nhất trong ngành Quân Y bấy giờ là Y
Sĩ Trung Tá Vương Quang Trường, Giám Đốc
Nha Quân.
Cấp trên trực tiếp của chúng tôi là Y Sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y.
Chúng tôi cả bọn đi lĩnh quân trang, quân dụng. Lần đầu tiên sờ vào những thứ xa lạ, chỉ thấy bơ vơ, lạc lơng. Tôi và Lê Đ́nh Thuấn c̣n được lĩnh bộ đồ lính của Tây thời xưa, loại có túi ở ống quần (để bắt gà!) và cả đôi giầy brodequin da sần sùi, đế sắt nặng hàng kư lô. Nói thế để biết vào năm 1960, quân đội ta vẫn chưa có qui củ ǵ hết, bắt đầu bằng ngành tiếp liệu.
Lúc đó
quân phục của chúng tôi, cũng như các sĩ quan khác
là quần dài, áo dài tay màu vàng, đi giầy đen, đội
mũ cát-két (casquette) vàng. Trên nắp túi trái đeo bảng
tên dài bằng ngón tay trỏ thường bằng kim loại
khắc ch́m tên họ. Bên cánh tay trái đeo huy hiệu Trung
Tâm h́nh cái khiên màu đỏ gụ (đỏ Bordeau) trong có
một con rắn quấn quanh cây gậy, nằm trong một
h́nh chữ thập. Cấp bậc th́ gắn trên cổ áo.
Tụi tôi Thượng Sĩ là một cái nút trơn lu màu
trắng bằng ngón tay trỏ. Nếu thi đậu lên
năm thứ nhất Y Khoa th́ tự động lên Chuẩn
Uư, sẽ có cái nút màu vàng trên có con cá alpha nổi. Lên năm
thứ hai sẽ đeo “lon” Thiếu Uư, 1 hoa mai vàng. Lên
năm thứ tư sẽ đeo lon Trung Uư, 2 hoa mai vàng tới
khi ra trường luôn. Lúc bấy giờ cấp tá sẽ
đeo hoa mai bạc với đường kính lớn
hơn để phân biệt với cấp uư. Sau này mới
thêm cái gạch ngang để phân biệt rơ ràng hơn. Trên
cầu vai th́ đeo một huy hiệu bằng đồng
dấu hiệu chữ thập đỏ, bên trong khắc nổi
2 mẫu tự:
YS : Y Sĩ ;
DS : Dược Sĩ;
NS : Nha Sĩ;
HC : Hành Chánh Quân Y;
Và chúng tôi phài đeo SV là Sinh Viên.
Thế là ba mươi mấy chàng Sinh viên Quân Y, mũ áo xênh xang, lon lá đàng hoàng, Thượng-sĩ Hiện dịch chứ bộ, lần lượt tŕnh diện Bộ Chỉ huy.
Về quân phục, chúng tôi mặc kaki vàng , quần dài, áo dài tay, đội casquette vàng, giầy đen ngắn cổ. Chỉ những khi lên tiếp xúc với Bộ Chỉ huy, nhất khi mỗi sáng thứ Hai chào cờ mới phải thật tề chỉnh mà thôi.
Lúc chúng tôi mới nhập ngũ th́ là lúc Y sĩ Trung Tá Nguyễn Hữu Thư vừa bàn giao chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y cho Y Sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức. Tướng mập mạp, cao lớn, với đôi kính cận khá dầy, miệng có chiếc răng khểnh, ông đă từng là Sinh viên Quân Y ngoài Ha Nội, khóa 1, hồi c̣n Pháp thuộc. Mỗi sáng thứ hai, lúc chào cờ, ông di chuyển bằng xe ô tô hiệu Peugeot 203 mầu đen đến tận sân cờ, nơi tất cả quân cán chính của đơn vị đă đứng sẵn vào hàng, có Trung Úy Hành Chánh Đặng Văn Đại hướng dẫn để đi duyệt hàng quân. Nghe nói ông cũng là một nhà thơ, sau này mới biết bút hiệu của ông là Hoàng Vũ Đức Vân. Ông không gần gụi chúng tôi nhiều, cũng không nhắn nhủ ǵ cả cho những anh chàng “blanc bec” lớ ngớ như tôi vừa ra khỏi trường trung học. Ông chỉ nắm chức vụ Chỉ huy Trưởng Trường Quân Y đến cuối năm 1963, sau khi Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, sau đó th́ ông (bị?) giải ngũ và hiện đang sống tại tiểu bang California, Hoa Kỳ.
Ông (Hoàng Văn Đức) có hoài băo cải tổ toàn bộ Trường Quân Y, nhất là thành phần Sinh viên Quân Y, để sau này sẽ là Trường Quân Y kiểu mẫu cho toàn thể Đông Nam Á.
Ông đặt rất nhiều kỳ vọng vào khóa chúng tôi, nghĩa là những anh sinh viên c̣n trong trắng (!) để đào tạo từ đầu, lúc mới c̣n trứng nước...Ông cho may lễ phục của Sinh viên Quân Y : quần đen có nẹp, áo trắng , ngù vai đỏ, nút đồng, thắt lưng đen, to bản, tay mang đoản đao, huy hiệu trên mũ là TỔ QUỐC và NHÂN LOẠI.
Ngoài ra trong những năm sau đó, chúng tôi được gửi đi thụ huấn quân sự hè tại Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, dưới sự chỉ đạo của Đại Tá Trần Ngọc Huyến, một vị chỉ huy có lư tưởng quốc gia, rất được ḷng các sinh viên Vơ Bị kể từ khóa 16 trở đi, đó là các “CÙI” rất nổi danh sau này trong việc chiến đấu bảo vệ miền Nam.
Ông (Hoàng Văn Đức) chăm lo bổ túc đời sống văn hóa chúng tôi, tháng tháng diện lễ phục drill trắng đi ăn cơm tây ở Câu lạc bộ Sĩ quan An Đông nghe diễn thuyết về đủ mọi đề tài. Thành phần diễn giả khá chọn lọc. Ông c̣n bắt chúng tôi phải học thêm vào buổi tối trong doanh trại, có mời các giảng sư, giáo sư Y, Nha, Dược ngoài dân sự vào dạy thêm...
Điều “cách mạng” nhất trong đời sống Sinh viên Quân Y là ông (Hoàng Văn Đức) bắt chúng tôi phải vào nội trú trong doanh trại “Chuồng Ngựa”! Đây là lư do ông bị các lớp đàn anh của chúng tôi chống đối. Từ trước đến nay, tuy mang danh là lính, ăn lương sĩ quan đều đặn, mà chỉ mặc quần áo lính vào mỗi sáng thứ hai để vào doanh trại chào cờ. Chào cờ xong lại thay quần áo dân sự đi thực tập nhà thương, đi bát phố. Có anh năm thứ tư, cấp bậc trung úy đàng hoàng, mà hàng xóm c̣n nghi ngờ sĩquan giả , bị kêu Quân Cảnh xét giấy !
Tụi tôi, một
lũ “xây lô cố”, mặt búng ra sữa, ôm đồ đạc
lỉnh kỉnh vào doanh trại....
Từ đó trong tôi bừng lên một mầm sống mới…
Từ đó, chúng tôi mới có dịp nhận diện nhau...
Khi đă tập trung vào nội trú là phải nói đến ăn cơm nhà thầu trong trường. Cũng như mọi quân trường khác, việc ăn uống là do nhà thầu đảm trách. Cũng vẫn những bàn dài song song nhau trong phạn xá. Lũ chúng tôi đông nhất. Càng lên các lớp trên th́ nhân số cứ giảm dần đi. Các anh ít chịu vào ăn và ngủ trong doanh trại v́ đă quen ở ngoài từ bao nhiêu năm rồi, nhưng v́ lệnh trên bắt buộc nên phải miễn cưỡng vào ăn cơm phạn xá, c̣n chuyện ngủ đêm trong trại th́ rất ít các anh tuân theo v́ “chân cao, thấp” từ lâu “ngoài ṿng cương tỏa ‘’, nên cũng sinh ra bất măn…
Chúng tôi ngồi chờ nhà thầu dọn cơm, lẽ dĩ nhiên là rất chậm chạp, chẳng biết làm ǵ bèn quấy phá, nghịch ngợm. Lấy muỗng, nĩa, dao kéo gơ leng keng, ồn ào không thể tả được, nhất là giờ đông sinh viên. Ít lâu sau đó, khi ngồi chờ ăn th́ một đợt âm thanh nhịp bốn chạy dài từ bàn đầu đền bàn cuối ,lặp đi lặp lại không dứt : “ TẬP, THÀNH, B̀NH, T̀CH” rồi “KHA, KHÔI, NHÂM, THIỆN”. Cứ nhịp 4 đó kéo dài, ngân nga, dồn dập, đến khi nhà thầu dọn xong mới thôi . Th́ ra đó là những tên của các y, dược sĩ dàn anh chúng tôi trên Bộ Chỉ Huy.
“TẬP” là Dược Sĩ Đại Úy Nguyễn Phúc Bửu Tập, nhân vật thứ ba sau Chỉ huy trưởng Y Sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức và Chỉ Huy Phó Y sĩ Đại Úy Lê Phước Thiện;
“THÀNH” là nói đến Y sĩ Trung Úy Nguyễn Phúc Thành, vị chỉ huy trực tiếp của các Sinh viên Quân Y chúng tôi;
‘’B̀NH” là Y sĩ Trung Úy Lê Đ́nh B́nh, phụ tá Bác sĩ Nguyễn Phúc Thành, lo điều hành các Sinh viên ;
“TÍCH” là Y sĩ Trung Úy Trần Văn Tích;
‘’KHA” là Y sĩ Trung Úy Đinh Đại Kha, có mặt trong Bộ Chỉ huy Trường Quân Y;
“KHÔI” chỉ Y sĩ Đại Úy Hoàng Ngọc Khôi;
“NHÂM” là Y sĩ Đại Úy Ngô Văn Nhâm;
“THIỆN” chính là Y sĩ Đại Úy Lê Phước Thiện, Chỉ huy phó Trường Quân Y.
Thực ra năm PCB (Lư Hóa Sinh) chúng tôi chưa hẳn là sinh viên Y khoa. PCB, cũng như chứng chỉ SPCN (Lư Hóa Nhiên) chỉ là một chứng chỉ bắt buộc để vào năm thứ nhất Trường Thuốc. Trường Quân Y bấy giờ tọa lạc tại số 4 đường Hùng Vương. Từ đó chúng tôi đi học chứng chỉ PCB ở Trường Đại học Khoa Học chỉ mất 10 phút đi bộ mà thôi, rất tiện lợi cho sinh viên Quân Y nội trú .
Đại giảng đường của Trường Đại học Khoa Học Saigon khá rộng đối với tôi so với dẫy nhà lầu 2 tầng của Trường Chu Văn An, nguyên là khu nội trú của học sinh trường Petrus Kư nhường lại. Hai bên hông Đại giảng đường là 2 lối vào chính, nhưng phía sau cũng có một lối vào khác nữa. Đó là lối vào của bọn chúng tôi, hay đúng hơn là của tôi, trong những ngày đầu tiên là sinh viên đại học ! Lư do chính là nếu đi vào 2 lối cửa bên hông đằng trước sẽ gặp những hàng ghế đầu, sát bục giảng của các thầy cô giáo sư; mà than ôi, những hàng ghế này luôn luôn đưọc chiếm trước không biết từ lúc nào bởi những cuốn vở, những cặp da của ai ai không biết được…
Vào học lối
cửa sau, phải leo lên những bực thang v́ Đại
giảng đường xây dốc lên từ trước
ra sau. Trước khi vào hẳn bên trong, chúng tôi có một
ban-công nh́n ra đường Cộng Ḥa và bên trái là nhà gửi
xe của trường Đại học Khoa học. Từ
đó, chúng tôi có thể thấy bao quát những sinh viên ra
vào, ai đậu xe ở đâu, ai đến bằng cách
nào v.v…Cũng chính ở đó, chúng tôi túm năm tụm ba
đấu láo, bàn về những bài học đă qua hay sắp
tới. H́nh như năm đó số sinh viên ghi danh vào PCB
lên đến gần 1000 người!!! Cũng xin nói thêm là
năm 1960 , khi đă có bằng Tú Tài toàn phần, bất kể
ban ǵ Vạn vật, Toán hay Văn chương , đều
được ghi danh học mà không phải qua một kỳ
thi tuyển nào. V́ thế, thông thường sinh viên ghi danh một
lúc hai hay ba chứng chỉ ở các trường đại
học khác nhau.
Tất cả bài giảng đều bằng tiếng Pháp
dù đa số giáo sư là người Việt Nam. Khoa
Trưởng là Giáo Sư Lê Văn Thới, người mà
chúng tôi rất ít khi thấy mặt v́ Thầy không có tên
trong ban giảng huấn của chương tŕnh PCB năm
đó. Như tên gọi, học tŕnh của chúng tôi gồm
ba môn chính: Vật lư (Physique), Hóa học (Chimie) và Sinh học
(Biologie).
Viết đến đây cũng xin kể một chuyện vui, do đàn anh xa lắc xa lơ là Bác sĩ Phạm Ngọc Tỏa, cựu chủ tịch Hội Y Giới Pháp Quốc nhiều nhiệm kỳ, cũng là cựu Sinh Viên Quân Y từ hồi c̣n ở Hà Nội, cựu Giám Đốc Bệnh Viện V́ Dân Saigon v.v…kể lại trong một lần trà dư tửu hậu ở Paris rằng các anh lớn ngày xưa ở Hà Nội đă gọi ba chữ PCB là Phải Chơi Bời ! Do đó, tới năm chúng tôi th́ cũng theo gương các “niên trưởng” để “vỡ ḷng học lấy những nghề nghiệp hay !
Trở lại
với Trường Khoa học. Giáo sư dạy về
Sinh học Động Vật (Biologie Animale) là Bà Giáo sư
Trần Nguơn Phiêu, phu nhân của vị cựu chủ tịch
rất đánh kính của Hội Y sĩ Thế Giới của
chúng ta. Bà Phiêu, người nhỏ nhắn, ăn nói chậm
răi, hiền ḥa, trái lại Giáo sư Huỳnh Công Cẩn khi
giảng dạy nói rất lớn và hùng hồn. Môn Sinh học
Thực Vật th́ không ai qua mặt được Giáo
sư Phạm Hoàng Hộ, tác giả nhiều sách về Thực
Vật học. Ông đẹp trai, điềm đạm,
ghi một dấu ấn đẹp đẽ trong thời
gian ngắn ngủi ở Trường Khoa học.
Môn Vật Lư do Giáo sư Nguyễn Đ́nh Hưng, người
miền Nam, có nước da hơi ngăm ngăm, dáng dấp
rất trí thức.
Giáo sư Nguyễn văn Hoàng và Cổ Tấn Long phụ trách môn Hoá học.
(Xem thêm chi tiết về Trường Đại học Khoa Học Sài g̣n bài Viện Đại Học Sài g̣n và các Phân khoa trực thuộc trước năm 1975 - Phân khoa Khoa Học (Faculté des Sciences hay Trường Đại Học Khoa Học) của cùng tác giả) .
Như đă
nói ở trên, tất cả bài vở, lư thuyết cũng
như thực hành đều bằng tiếng Pháp. Thời
đó, c̣n Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Pháp vẫn
c̣n duy tŕ phái bộ Văn hóa cho măi đến năm 1965,
khi xảy ra khuynh hướng bài Pháp của chính phủ
Nguyễn Cao Kỳ th́ nước Pháp mới hoàn toàn rút hẳn
các giáo sư về nước. Sau này khi qua đến Pháp,
lúc xin phép hợp thức hóa bằng cấp Y khoa Việt
Nam , tôi mới được cho biết là chính phủ Pháp
chỉ công nhận những bằng cấp Việt Nam từ
1965 trở về trước mà thôi…
Phải nói thành thực rằng trong lớp chúng tôi, những
anh Tú Tài Việt rất vất vả trong những tháng
đầu tiên ở Đại học. Họ phải cố
gắng gấp đôi so với những bạn bè học
“trường Tây” lên. Họ vừa học vừa tra tự
điển: Pháp-Việt của Đào Văn Tập, của
Đào Duy Anh, của Thanh Nghị…, tự điển Danh từ
Khoa Học của Hoàng Xuân Hăn, tự điển Y học của
Bác sĩ Lê Khắc Quyến v.v… Ngoài ra, khi đối
đáp với giáo sư, nhất là khi thực tập trong
pḥng thí nghiệm cũng phải cố gắng đàm thoại
bằng Pháp ngữ với các giảng nghiệm viên. Chúng
tôi nghe các bạn “trường Đầm” nói chuyện với
nhau bằng tiếng Tây, mấy bạn Jean-Jacques Rousseau,
Taberd đấu láo với nhau bằng tiếng lóng Tây
(argot)…là chịu thua thôi. Nhưng sau này mọi việc
đâu lại vào đấy, nhất là khi thấy các anh lớn
dù có Tú Tài Việt cũng học Y khoa đông đảo, ra
trường đàng hoàng. Đó chính là cái gương sáng
cho lũ đàn em chúng tôi .
Chúng tôi bắt đầu làm quen với những buổi ghi cua (cours) về lư thuyết và những thực tập trong pḥng thí nghiệm.
Về Vật Lư th́ học nối các mạch điện, phép điện giải….Về Thực Vật, xem và vẽ h́nh các tế bào thực vật khác nhau… Về Động Vật th́ mổ và vẽ các bộ phận trong cơ thể của những con vật như con sam (limule), cá lóc, con dế.
Ngoài những sinh hoạt, học tập ở Đại học Khoa học, nhóm Sinh viên Quân Y chúng tôi c̣n phải sinh hoạt với Trường Quân Y nữa. Về ăn uống, chúng tôi được nhà thầu cung cấp tại nhà ăn. Thường th́ bốn người ăn chung một mâm như mọi quân trường khác, nhưng giờ giấc của anh em rất là tùy tiện, nên cứ đến giờ ăn là mỗi anh cứ tà tà xuống , giao dịch riêng lẻ với các cô của nhà thầu để lĩnh phần ăn.
Buổi tối th́ tha hồ mở đèn “gạo” bài, không bị bó buộc ǵ về giờ giấc hết. Cho nên có anh đi chơi tối về muộn, rồi mới học bài thật khuya. Có anh chăm chỉ hơn, ăn cơm chiều xong là đă ngồi học đến khuya mời đi ngũ.
Do đó, như trong bài trước đă nói đến vụ nội trú, tuy trong một pḥng lớn chung nhau mà anh th́ ngủ, anh th́ học bài, có anh lại đem ghi-ta ra dạo vài khúc nhạc t́nh, nên trong pḥng lại chia năm xẻ bẩy thành từng “ổ” riêng biệt bằng những tấm chăn, hoặc drap trải giường kín mít như buồng tằm… để ánh đèn các bạn khác không phiền đến ḿnh.
Nội quy là không được ra vào cổng trại sau 10 giờ đêm. Nhưng làm sao ngăn cấm được những chàng trai “lăng tử” khi có chút men t́nh ái ngấm vào cơ thể mới lớn ! Cổng trại có một toán canh vài ba người dưới sự giám sát của Trung sĩ Thông. Ông người cao lớn, da ngăm ngăm đen, là một chướng ngại vật cho những anh ra sớm về trễ. Ông bị chúng tôi oán nhiều nhất v́ sự nghiêm chỉnh này. Những “ông thượng sĩ” trẻ măng đều “teo” khi gặp ông. Trung sĩ Thông ghi tên tuổi những anh phạm nội quy, thế rồi hai, ba hôm sau, cụ Khánh xuống khu sinh viên đưa giấy mời lên Ban Sinh viên để nhận biện pháp kỷ luật.
Xin mở một dấu ngoặc nói đến cụ Khánh, nhân vật dân sự duy nhất trong Trường Quân Y. Năm 1960 th́ cụ đă già rồi. Cụ, h́nh như họ Hoàng, như chiếc bóng, lọm khọm di chuyển trong trường để đem công văn, hoặc liên lạc đâu đó trong doanh trại.
(Cụ Khánh này chính là ông Hoàng Văn Khánh đă được ghi trong tài liệu)
Cụ làm việc cho Trường Quân Y từ ngoài Hà Nội ! Cụ biết hầu hết các quân y sĩ từ khóa 1 với vị chỉ huy trưởng đương thời là Ysĩ trung tá Hoàng Văn Đức qua các khóa sau như giáo sư Trần Anh, bác sĩ Phạm Ngọc Tỏa, Y sĩ Đại úy Hoàng Ngọc Khôi… trở đi đến khóa chúng tôi!!! Thâm niên làm việc của cụ như thế, nên ai ai nể cụ, vả lại cụ lặng lẽ làm việc không gây phiền hà ǵ đến ai. Mỗi lần nhận giấy báo lên gặp Y sĩ Trung Úy Nguyễn Phúc Thành, chúng tôi đều nghe cụ “an ủi” vài câu nhẹ nhàng cũng đỡ phần nào sầu năo. H́nh phạt thường là cảnh cáo sau khi găi đầu găi tai viện mọi lư do bịa đặt, nhung cũng có h́nh phạt thật sự nếu tái phạm nhiều lần, hoặc nặng hơn nữa là c̣n dắt thêm thằng bạn cha căng chú kiết nào đó vô trại ngủ tạm một đêm. Đó là trường hợp của Lê Thành Hồ. Hồ phải khăn gói lên nằm tù trọng cấm vài ngày ở Bộ Tổng Tham Mưu, chung với các quân nhân khác…
Ngoài ra c̣n có các buổi ăn chung cả trường thường tổ chức ở Câu lạc bộ An Đông. Những buổi đó chúng tôi phải mặc lễ phục drill trắng, bên trong áo trắng cà-vạt đen, mũ cát-két trắng, huy hiệu trắng (hạ sĩ quan cao cấp mà!!!) với một vành đai mũ viền bằng da nâu, giầy da đen đánh bóng. Trường thường mời các nhân vật của thời cuộc đến nói chuyện cho đám Sinh viên Quân Y nghe, có lần có cả Cha Litchtenberger là một linh mục Ḍng Tên (Jésuite), giáo sư môn Mô-học (Histologie) của Y khoa Đại học Sài g̣n …Chúng tôi ngồi nghe diễn thuyết xong th́ bắt đầu ăn cơm…Tây. Trong giờ nghỉ giải lao,chúng tôi ra hành lang Câu lạc bộ thụt bi-da 3 bi cho thư giăn, xa xa mặt nước hồ bơi ánh lên loang loáng những vệt sáng nhỏ…’’.
Trích từ tài liệu [10] :
‘’Năm 1959, tôi được thu nhận vào ngành quân y và bắt đầu vào niên học 1959-60.
Ở Sài G̣n, có một Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y, thuộc Cục Quân Y, trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Từ đường Trần B́nh Trọng, phía Chợ Lớn đi ra gặp đường Hùng Vương. Cổng trường có mang bảng” TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN QUÂN Y”. Địa chỉ số 4 đường Hùng Vương Chợ Lớn.
Đây là một doanh trại quân đội cũ, từ thời Pháp thuộc, được mang danh là “khu Chuồng Ngựa”.
Để được nhận vào ngành quân y, các sinh viên tốt nghiệp Tú Tài 2 phải qua một kỳ thi tuyển chọn. Sinh viên quân y gồm cả ba ngành: Y, Nha và Dược.
Tất cả sinh viên Quân Y, Nha, Dược mới vào năm thứ nhất, hai (tính theo thời gian) bắt buộc phải vào ăn ở trong cư xá Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y. Một số sinh viên các lớp lớn t́nh nguyện vào ăn ở trong Trung Tâm. Những sinh viên quân y đă có gia đ́nh được phép ở ngoại trú.
Qua năm thứ hai y khoa, số sinh viên mới gia nhập vào ngành quân y khá đông. Cư xá Sinh Viên không đủ chỗ nên những sinh viên đă ở hai năm trước được phép ở ngoại trú.
Cơ sở Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y được xây dựng từ thời Pháp nên nhà cửa đă xuống cấp quá nhiều. Là một cơ sở quân đội, trước cổng có trạm lính canh gác ngày đêm. Bao quanh Trung Tâm là tường xây gạch cao hơn 3 mét. Dọc theo tường cao là hàng cây cổ thụ cao vút, gốc lớn hơn một người lớn ôm. Từ cổng vào, phía tay trái là những dăy nhà trệt, nằm song song nhau. Tất cả những dăy nhà cửa trong Trung Tâm đều xây dựng cùng một kiểu cách như nhau, đều là những dăy nhà trệt, mái lợp ngói, tường xây gạch, nền tráng xi măng. Mỗi dăy nhà được ngăn ra làm nhiều pḥng.
Từ cổng của Trung Tâm đi vào, 2 dăy đầu là văn pḥng Bộ Chỉ Huy và những Pḥng Ban cạnh Bộ Chỉ Huy. Dăy nhà thứ 3 tiếp theo là Câu Lạc Bộ, các Pḥng Tiếp Liệu. Dăy nhà thứ 4 là Kho Quân Nhu, có một Đại Đội binh sĩ lo việc an ninh cho đơn vị.
Khu Cư xá Sinh Viên quân y gồm có bốn dăy nhà dài cuối cùng, bên tay trái từ cổng Trung Tâm đi vào, nằm song song nối tiếp nhau. Dăy nhà thứ nh́ của khu Cư Xá dành cho sinh viên lớp mới vào. Sinh viên quân y các lớp tự chọn lấy pḥng và tự ghép chung vào ở cùng một pḥng 2 hoặc 3 người. Trang bị trong mỗi pḥng có 3 giường sắt đơn (một người nằm) kiểu nhà binh có nệm và drap màu xám. Ba cái bàn gỗ và ba cái ghế sắt dùng làm nơi để ngồi học. Ba cái tủ sắt đặt vào mỗi góc, nơi móc quần áo. Tất cả đồ dùng đều đă cũ.
Một dăy nhà trống vách, lợp fibrocement, nằm dọc dài theo tường, gần từ cổng vào, dành cho sinh viên để xe hai bánh. Có nhà để xe, nhưng không có xe nào để tại nhà xe. Khu Cư Xá nằm trong phiá sau cùng của Trung Tâm nên hầu hết các sinh viên cho xe chạy trên hành lang của mỗi dăy để đưa xe vào nằm trong pḥng ngủ luôn. Xe gắn máy hoặc Lambretta chạy trước pḥng ngủ gây ồn ào lắm. Có một lần suưt xảy ra tai nạn. Chuyện xảy ra như sau: Hà Thúc Nhơn, sinh viên quân y năm thứ hai chọn ở một pḥng gần tận cùng trong dăy nhà của đám sinh viên mới vào. Anh Nhơn có tiếng là khó ngủ. Một hôm, giờ trưa, một anh sinh viên quân y (tôi quên tên) đi xe Lambretta ngang qua pḥng anh Nhơn. Có lẽ bực ḿnh v́ không ngủ được, tiếng máy xe gây ồn ào, nên anh Nhơn từ trong pḥng xô cửa ra. Nhưng cũng may là chiếc Lambretta chạy nhanh, thoát qua khỏi cửa pḥng anh Nhơn, nên không bị cánh cửa đập vào xe. Anh Nhơn nổi cơn la lối om ṣm. Gần gủi Anh Nhơn, tôi nhận thấy anh tốt bụng lắm .
Tất cả sinh viên nội trú trong Trung Tâm dùng các bữa ăn chính tại Câu Lạc Bộ. Mỗi sáng thứ hai, tất cả sinh viên mặc quân phục chào cờ. Sân chào cờ nằm phiá trên đầu cùng của các dăy nhà trước khu Cư Xá Sinh Viên.
Khi tôi mới vào học quân y (năm 1959) , Y sĩ Trung tá Nguyễn Văn Thư, làm Chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y. Thời gian này, sinh viên quân y “lè phè” lắm.
(Phụ chú : Có thể v́ vậy mà ông Hoàng Viết Khánh đă kể ra trong tài liệu rắng sinh viên không có tinh thần đoàn kết ?)
Tiếp theo là Y sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức từ năm 1960 đến 1963. Sinh viên quân y trong thời gian này được khép vào nề nếp.
Đến năm 1961, Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y đổi tên là Trường Quân Y.
Sau biến cố chính trị ngày 1/11/1963, Y Sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức không c̣n giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Y nữa. Y Sĩ Đại Úy Lê Phước Thiện, Chỉ Huy Phó trường Quân Y đăm nhiệm Quyền Chỉ Huy Trưởng trường Quân Y.
Khoảng sau năm 1963, trường Quân Y được dời về cơ sở mới xây cất tọa lạc trên đường Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn ( sau chợ cá Trần Quốc Toản, Chợ Lớn).
Về việc học y khoa, các sinh viên quân y cùng học với các sinh viên dân sự tại Đại học Y Dược, đường Trần Qúy Cáp, Sà́ G̣n. Cũng như những sinh viên dân sự, sinh viên quân y thực tập tại các Bệnh viện ở Sài G̣n, Chợ Lớn và Gia Định. Sinh viên quân y học Nha khoa theo học tại trường Đại Học Nha khoa, Sài G̣n. Nếu được nhận vào ngành dược, các sinh viên quân Dược sẽ theo học dược khoa tại trường Đại Học Dược khoa Sài G̣n.
Trường Đại học Y Dược Sài G̣n toạ lạc tại số 28 đường Trần Qúy Cáp, Sài G̣n. Khoảng năm 1961, trường Đại Học Dược khoa dời đến tại cơ sở số 169 đường Công Lư, góc đường Hiền Vương, Sài G̣n. Sau biến cố chính trị 1/11/1963, trường Đại Học Dược Khoa dời về Thành Cộng Ḥa, số 41,đại lộ Cường Đễ, Sài G̣n. Khoảng sau năm 1965, trường Đại học Y khoa dời về Trung Tâm Y Khoa, đường Hồng Bàng , Chợ Lớn.
(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học Sài g̣n và các Phân khoa trực thuộc trước năm 1975 – Phân Khoa Y Khoa (Trường Đại học Y Khoa) của cùng tác giả) .
Hằng tháng, Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y tổ chức những buổi sát hạch sinh viên quân y, nha, dược, các môn đă học trong niên học. Thời gian Y Sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức, Chỉ Huy Trưởng, mỗi tháng c̣n có lịch sinh hoạt cho sinh viên quân y. Tất cả sinh viên quân y, mặc lễ phục, tập trung tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Đông, Chợ Lớn. Mỗi bữa sinh hoạt có khách mời để thuyết tŕnh một đề tài về văn chương, thời sự, v. v. …. Sau đó là bữa ăn thân mật. Cũng trong thời gian này, sinh viên quân y tập dượt diễn hành. Đến ngày lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa 19/06, sinh viên quân y có tham gia diễn hành với các quân binh chủng khác.
Mỗi năm vào mùa hè, trường Quân Y gửi sinh viên quân y đi thụ huấn quân sự tại các trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, trường Vơ Bị Đà Lạt, hoặc có năm thụ huấn tại trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang. Thời gian học quân sự thường là khoảng hai tháng hè cho các sinh viên quân y. Sinh viên y khoa đi thụ huấn quân sự đến cuối năm thứ hai y khoa. Hè năm thứ ba y khoa, sinh viên y khoa phải đi thực tập tại các bệnh viện. Sinh viên quân y của ba ngành y, nha, dược khoa đều học chung với sinh viên dân sự trong các trường Y, Nha, Dược Đại Học Sài G̣n.
Các sinh viên vào năm thứ nhất, tính theo thời gian, được mang cấp bậc thượng sĩ, năm thứ hai, chuẩn úy, năm thứ ba và thứ tư, thiếu úy, năm thứ năm, thứ sáu và năm thứ bảy, mang cấp bậc trung úy đến khi tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp. việc thăng cấp bậc theo quy chế của quân đội và tùy theo từng quân binh chủng, đơn vị của vị y sĩ đang phục vụ’’.
Theo tài liệu [8] : Bác sĩ QuânY hiện dịch th́ dĩ nhiên phải làm việc cho quân đội theo đúng khế ước (một năm học th́ hai năm phục vụ cho quân đội) nhưng v́ t́nh h́nh chiến tranh liên tục, nhu cầu bác sĩ cần cho quân đội luôn luôn cao nên ít có bác sĩ được giải ngũ.
Theo chế độ quân y Pháp th́ khi ra trường (quân y hay dân y bị trưng tập) các bác sĩ, nha sĩ hay dược sĩ được đeo lon trung úy và hưởng lương với cấp bậc tương ứng và sẽ được thăng cấp tùy thâm niên quân vụ hay tùy nhu cầu cấp số.
Trái lại, theo chế độ quân y Mỹ, các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ Quân Y ra trường được đeo lon Thiếu tá; C̣n các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ đi quân dịch chỉ hưởng cấp bậc binh nh́ trong thời gian tập luyện quân sự cơ bản; C̣n bị trưng tập động viên trong thời chiến tranh th́ được đeo lon Thiếu tá và sẽ được thăng cấp tùy thâm niên quân vụ hay tùy nhu cầu cấp bậc đ̣i hỏi.
Theo chế độ quân y của Pháp các sinh viên y khoa xin gia nhập quân đội (Quân Y) th́ được hưởng cấp bậc sinh viên quân y và mang cấp bậc tùy theo năm lớp và hưởng lương tương xứng: thượng sĩ, năm thứ 1; chuẩn úy, năm thứ 2, thứ 3; thiếu úy, năm thứ 4, thứ 5; trung úy, năm thứ 6.
Các Quân Y Sĩ (hiện dịch, không phải y sĩ dân y trưng tập) nguyên là những sinh viên t́nh nguyện gia nhập quân đội th́ v́ có kư khế ước cứ một năm học hưởng lương quân y th́ phải phục vụ quân đội 2 năm, trước năm 1963, th́ không được mở pḥng mạch, nhưng sau nầy, v́ thiếu bác sĩ, dân chúng cần bác sĩ săn sóc, nên Bộ Tổng Tham Mưu cũng cho phép (Quân Y Sĩ) mở pḥng mạch tư ngoài giờ làm việc, nhất là ở vùng ngoại ô hay các tỉnh, quận nhỏ.
(Xem thêm chi tiết về Binh Chủng Quân Y trong Phụ đề ở cuối bài).
Tháng 4 năm 1964, để phù hợp với chức năng của trường, một lần nữa trường được đổi tên danh thành Trường Quân Y, đặt cơ sở tại Phú Thọ, Gia Định (đường Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn ?) .
Kể từ ngày thành lập cho đến tháng 9 năm 1965, Trường Quân Y đă thực hiện các chương tŕnh huấn luyện như sau:
Sĩ Quan:
-Các khóa Y Sĩ, Dược Sĩ và Nha Sĩ Hiện dịch ;
-Y Sĩ Giải Phẫu;
-Y Sĩ Trưng Tập, Y Sĩ Hành Chính và Trợ Y.
Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ:
-Các khóa Hạ Sĩ Quan B1 Quân Y;
-Các khóa Hạ Sĩ Quan Trừ Bị Quân Y.
-Các khóa CC 2 :
-Y Tá, Nha Tá, Quang Tuyến, Bảo Tồn, Y Cụ, Y Khoa Pḥng Ngừa, Tiếp Huyết Thí Nghiệm, Gây Tê và Mê, Pḥng Mổ và Y Tá Phi Hành.
-Các khóa CC 1:
-Cơ Hữu Quân Y và Tân Binh Quân Y .
Một cựu sinh viên vào Trường Quân Y nghành Nha Khoa năm 1971 đă ghi lại trong tài liệu [5] & [6] & [7] những canh tân các cơ sở vật chất của Trường cùng những cải tổ lề lối học tập văn hóa chuyên môn và quân sự,quân phong ,quân kỷ và sinh hoạt thể thao, văn nghệ thực hiện bởi Chỉ Huy Trưởng Y Sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân . Những thay đổi này đă có tác động tích cực (positif, positive) đến tinh thần đoàn kết huynh đệ chi binh sinh viên trong Trường và hơn hết là sự hảnh diện tự hào của Binh Chủng. Ngoài ra, tài liệu này cũng viết vài hàng vể quang cảnh Trường Quân Y vài ngày trước ngày 30/4/1975.
‘’Năm 1971 tôi thi vào Trường Quân Y theo lời khuyên của ông anh Nha Sĩ Lư Văn Quán lúc đó đang là sinh viên Quân Y (SVQY ) năm thứ ba Nha Khoa. Anh nói SVQY sướng lắm, có tiền xài hàng tháng, có chỗ ăn ở không tốn tiền, mỗi tuần chỉ cần vào chào cờ một lần và sau đó hoàn toàn tự do muốn làm ǵ th́ làm. Lại c̣n có quyền mặc quân phục đi ra ngoài đường khỏi bị cảnh sát hỏi giấy tờ lôi thôi. Nói tóm lại theo anh th́ SVQY là một loại học bổng, tuy phải kư hợp đồng làm việc 10 năm trong quân đội nhưng tất cả các nha sĩ xi-vin khác cũng phải bị trưng tập và nào ai được giải ngũ sau 10 năm đâu? Thằng em nghe đă quá vội vàng nộp đơn thi ngay lập tức.

Bộ Chỉ Huy trường Quân Y – H́nh trích từ tài liệu [7] & [9]
Thời kỳ đó Chỉ Huy Trưởng c̣n là Trung Tá Phạm Vận, sau này khi Đại Tá Hoàng Cơ Lân về thay th́ có những thay đổi lớn và SVQY phải vào ở nội trú trong trường, hết c̣n tự do như trước nữa.
Lớp Nha Sĩ 1974 (1971?) chúng tôi có khoảng 20 thanh niên th́ gần nửa nộp đơn thi vào Trường Quân Y nhưng chỉ có năm người được chấp nhận . Điều này nói lên giá trị của SVQY và tôi rất hănh diện khi được đeo huy hiệu Trường Quân Y và nhất là lúc được móc cái alpha vào ve áo sau thời kỳ huấn nhục, chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan Quân Y.
Những năm đầu trong Trường Quân Y :
Đối với tôi, thời gian huấn nhục trôi qua nhanh chóng và tương đối dễ dàng. Một phần v́ trẻ tuổi, lại có chơi thể thao, từng là cầu thủ bóng chuyền cho đội tuyển Y-Nha trong nhiều năm liền nên sức khỏe rất tốt, những màn chạy bộ hít đất không mấy khó đối với tôi.
Hai năm liền vào dịp hè chúng tôi được đi học quân sự tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, mỗi lần có lẽ khoảng sáu tuần lễ (tôi không nhớ rơ lắm số lượng thời gian). Một lần học căn bản Tiểu Đội Trưởng và một lần về căn bản Trung Đội Trưởng.
Bản thân tôi là một hướng đạo sinh, từng làm kha trưởng nên đời sống trong quân trường Thủ Đức không mấy khó khăn, lại c̣n có phần thích thú nữa với những màn leo trèo, bắn súng, bắn M79, M72... Những lần huấn luyện viên cần người t́nh nguyện là tôi xung phong lên bắn thử không ngần ngại. Những thứ khác như di hành dă chiến, định hướng v.v... th́ chỉ là "cơm sườn" đối với tôi.
Y Sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân và chế độ nội trú Sinh Viên Quân Y :

Đại Tá Hoàng Cơ Lân – H́nh trích từ tài liệu [7]
Vào năm 1972, Đại Tá Hoàng Cơ Lân về Trường Quân Y thay Trung tá Phạm Vận, lúc này đă được thăng cấp đại tá. Sinh hoạt SVQY được một luồng không khí mới thổi đến và thay đổi hẳn. Đại Tá Lân xuất thân từ Nhẩy Dù nên lần lượt mời một số sĩ quan quân y của binh chủng Dù về giúp xây dựng lại Trường Quân Y.
Một trong đó điều đáng kể nhất là chế độ nội trú. Đối với một số lớn các SVQY đă quen chế độ ngoại trú (trong đó có tôi) th́ mỗi ngày phải vào ngủ trong trại th́ quả là một cực h́nh. Lại c̣n những vụ điểm danh, bắt buộc học mỗi buổi tối hai tiếng đồng hồ gọi là "étude surveillée" càng làm cho sự thay đổi khó khăn hơn. Tuy nhiên riết rồi cũng quen dần và sự chuyển tiếp không đến nỗi khổ sở lắm. Đối với các khóa đàn em về sau th́ đă biết trước những ǵ đang chờ đợi nên dễ chấp nhận hơn.
Bù lại, Đại Tá Lân đă thực hiện một số thay đổi quan trọng về cơ sở vật chất, lề lối sinh hoạt và bắt đầu tạo được một truyền thống mới cho trường. Một trong những làm tôi ngạc nhiên nhất là ông đă chủ trương sự "sạch sẽ" bắt đầu từ... nhà vệ sinh! Ông cho đập hết và sửa lại toàn bộ khu vực chuồng xí và tắm rửa. Các phái đoàn đến thăm Trường đều được mời đi xem nhà vệ sinh mới, sạch tưng và là một trong những điều ông tỏ ra rất hănh diện.
Đại Tá Lân rất chú ư đến cách ăn mặc của SVQY, lúc nào cũng phải chỉnh tề, thẳng thớm và giày lúc nào cũng phải bóng lộn lên. Trong lớp tôi bên Y Khoa có anh Khiêm (khoá 23) đă từng đuợc ông khen ngợi trước hàng quân nhờ bộ đồ gabardine mới toanh lúc chào cờ.
Điều đặc biệt là từ ngày Đại Tá Lân về trường, SVQY được ăn uống đầy đủ hơn, có ăn sáng và ăn tối khá thịnh soạn và miễn phí. Ai dậy sớm và đi học về kịp th́ ăn, không bắt buộc. Thú vị là chính SVQY phải phân công nhau mỗi ngày cử hai người đi…chợ!

Hội quán Trường Quân Y - H́nh trích từ tài liệu [7]

Hội quán Trường Quân Y - H́nh trích từ tài liệu [7]
Chỗ ngủ cũng được sửa sang, sơn phết lại tươm tất, tăng cường thêm đèn đóm. Giường ngủ được đồng loạt thay hai nệm mới, tủ cũng mới hoặc sửa lại đàng hoàng. Một cánh ngăn tủ có thể được hạ xuống thành bàn viết rất tiện lợi.
Ngoài ra, cả tầng dưới một "bâtiment" được sửa thành hội quán khá xôm tụ, có bán cà phê nước uống, có nhạc music box rỉ rả. Có đủ cả bàn billard Pháp và Mỹ, ping pong, lại c̣n có ban nhạc SVQY chơi party nhẩy đầm mỗi tối thứ bẩy. Các SVQY đều được quyền mời bạn gái vào chơi. Trong thời kỳ này các chỗ khiêu vũ bên ngoài đều bị cấm nên TQY (Trường Quân Y ?) được các "em gái" thích lắm.
Tôi được hân hạnh tham gia ban nhạc trong hai năm liền, được quen với các đàn anh Quang "ngựa," đặc biệt là anh Tiến "dế" với cái đàn bass cao hơn anh một cái đầu.

Ban Nhạc Sinh Viên Quân Y (1973) -H́nh trích từ tài liệu [7]
Vào khoảng đầu năm 1973 (không nhớ rơ lắm) lúc Dược Sĩ Đại Úy Trần Mạnh Anh từ Nhảy Dù về Trường Quân Y th́ môn bóng chuyền Trường Quân Y được đặc biệt đẩy mạnh.

Một trận bóng chuyền- H́nh do QYHD Phạm Hiếu Liêm cung cấp - H́nh trích từ tài liệu [7]
Thỉnh thoảng Trường Quân Y tổ chức những cuộc tranh tài bóng bàn, billard, cờ tướng, rất vui nhộn.

Tranh tài bóng bàn - H́nh do QYHD Phạm Hiếu Liêm cung cấp - H́nh trích từ tài liệu [7]
Một trong những môn thể thao Đại Tá Hoàng Cơ Lân chú ư là môn Nhu Đạo. Việc xây dựng Judokan trong TQY phần nào cũng từ ư kiến của Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Quân Y Đỗ Danh Thụy, nguyên đai đen Nhu Đạo và là em họ vô địch nhu đạo Đỗ Danh Nhất.
Một điều không thể không nhắc đến là Đại Tá Hoàng Cơ Lân thỉnh thoảng mời các văn nghệ sĩ về trường để nói chuyện và biểu diễn. Nhà văn Hoàng Hải Thủy và một nhạc sĩ Tây Ban Cầm cổ điển đă đến với các SVQY trong những dịp như vậy. Có một lần, cả một phái đoàn Hải Quân đến báo cáo với anh em về trận hải chiến oanh liệt giữa Hải Quân Việt Nam và Hải Quân Trung Cộng tại Hoàng Sa.
Sau mùa hè đỏ lửa 1972, SVQY được điều ra ngoài Đà Nẵng làm công tác dân sự vụ trong những tháng nghỉ hè . Chúng tôi được chia ra thành những nhóm nhỏ phụ trách y tế tại những trại nạn nhân chiến cuộc tập trung. Tôi được phân bổ cùng với hai anh quân y và một anh quân dược về Camp Brook, một căn cứ Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) cũ của quân đội Hoa Kỳ tại vùng bắc thành phố Đà Nẵng. Công việc chúng tôi không có ǵ nặng nhọc, công việc chính là khám bệnh phát thuốc và săn sóc vết thương cho dân chúng. Những trường hợp nặng th́ chuyển về bệnh viện tỉnh. Dù rằng chúng tôi cảm thấy không thật sự giúp ích ǵ nhiều lắm nhưng tôi để ư thấy sự hiện diện của chúng tôi có làm người dân yên tâm hơn .
Bây giờ nghĩ lại, Đại Tá Hoàng Cơ Lân là một người có viễn ảnh xa và biết cách áp dụng những cái mới, cái hay của người ngoài để trang bị thật đầy đủ cho những quân y sĩ sắp ra trường. Chiến trường ngày càng khốc liệt đ̣i hỏi những yêu cầu và phẩm chất cao hơn của người quân y sĩ.
Chỉ trong ṿng hai năm rưỡi, Đại Tá Lân đă xây dựng được rất nhiều và tôi tin là tên tuổi ông đă được gắn liền với Trường Quân Y QLVNCH. Ngày nay mỗi lần nhắc đến ông, tôi luôn thấy hănh diện đă có thời gọi ông là Đại Tá Chỉ Huy Trưởng (của tôi).
Năm cuối cùng trong TQY, tôi được chọn làm Sinh Viên Cán Bộ phụ trách Quân Nha. Tuy chỉ là sinh viên năm thứ tư Nha Khoa nhưng tôi được nhập vào Ban Cán Bộ gồm các anh sinh viên Y Khoa năm thứ sáu và Dược Khoa.
Làm Sinh Viên Cán Bộ th́ phải nhận lănh những trách nhiệm nhưng đồng thời cũng được những dặc quyền khác như miễn điểm danh và có quyền đi đêm. Tuy vậy rốt cuộc ngủ trong Trường c̣n thích hơn ở nhà nên chúng tôi ít khi vắng mặt ban đêm.
Thời gian huấn nhục khoá đàn em không thoải mái lắm đối với tôi v́ dễ gây thù oán và mất bạn, nhất là nếu đàn em đó là em của bạn ḿnh. Thỉnh thoảng tôi cứ phải an ủi các sinh viên đàn em ráng nín thở mà qua sông, ai sao ḿnh vậy và thời gian 9 tuần cũng sẽ trôi qua rất mau. Tuy nhiên nh́n mấy đàn em lâu nay chỉ biết thức đêm học hành chăm chỉ, bị bắt chạy mới có ba ṿng vũ đ́nh trường đă té xỉu vài người trong ḷng cũng không vui nổi.
Các Sinh Viên Cán Bộ phải thay phiên nhau trực đêm để điểm danh các sinh viên khác, cũng như đi tuần cùng với cán bộ Trường xem họ có ngồi vào bàn học hay không và nhắc tắt đèn khi đến giờ. Những ngày tôi phụ trách trực là dịp tôi kết bạn tốt nhất v́ Sinh Viên Cán Bộ có quyền kư giấy phép cho các sinh viên khác được miễn ngủ đêm trong trại.
Diễn Hành Ngày Quân Lực:
Sinh sau đẻ muộn nên tôi chỉ được dự một lần diễn hành của SVQY nhân ngày Quân Lực 19/06/1973. Qua các thông tin của các đàn anh cung cấp, tôi mới biết là Trường Quân Y đă từng đi diễn hành từ năm 1952 tại Hà Nội với các vị như Trần Anh, Hoàng Văn Đức, Trần Kim Tuyến sau này đều là những tên tuổi nổi tiếng của Việt Nam Cộng Ḥa.
Tôi chỉ được biết TQY đă tham dự diễn hành lần trước đó vào năm 1971 tại đường Thống Nhất và đàn anh Phạm Gia Cổn được mang lon tá dắt đoàn SVQY hoách lắm. Lại nghe đâu h́nh như có vụ Việt Cộng pháo kích ǵ đó.
Diễn hành th́ phải tập luyện. Tôi không nhớ trong trường hợp nào tôi lại được cử làm trưởng "ban nhạc" cho anh em tập ắc ê. Nói là ban nhạc cho xôm chứ sự thật chỉ có ba ngoe ôm hai cái trống và một cái phèng la. Kỷ niệm vui nhất là Đại Tá Hoàng Cơ Lân rất thường xuyên xuống đôn đốc tập luyện và có lần chúng tôi đang đú đởn (đùa giỡn) không để ư đội h́nh đă sẵn sàng, ông quát "MUSIC!!!" Thế là vội vàng vang lên tiếng trống và tiếng phèng la loạn đả cả lên.
Gần đến ngày Quân Lực th́ tập ráo riết hơn. Mỗi buổi sáng sớm có xe GMC chở anh em đến một khúc đường tại Quận 5 đă được chận lại hai phía để riêng SVQY tập luyện. Tập xong mới được về ăn sáng và đi học. Lúc này tôi được vào đại đội diễn hành và đứng đầu một hàng quân những anh cao kều nhất. Sau vài tuần th́ chính tôi cũng tự tin phe ta đi đứng giỏi lắm rồi.
Đêm 18/06/1973 là một đêm không ngủ cho đại đội SVQY đi diễn hành. Sau cơm chiều tất cả được chở ra vị trí tại đường Trần Hưng Đạo đă được chọn trước. Sau khi sắp xếp xong đội h́nh, súng uống gác lại ba cái một, chúng tôi được thả ra đi quanh quẩn. Phải nói là bộ đồ đại lễ SVQY đẹp vô cùng và anh nào mặc vào cũng trông đẹp trai hẳn ra. Tôi để ư các "em gái hậu phương" đều sẵn sàng tiếp chuyện và cứ hơi chốc là mang bánh trái, nước nôi ra mời.

Đại Đội SVQY sửa soạn diễn hành – H́nh trích từ tài liệu [7]
Rất xui cho chúng tôi là lúc khởi đầu xuất quân rất tề chỉnh, hàng ngang hàng dọc thẳng tưng, tay đánh cao đều nhưng bước gần khán đài chính th́ tiếng nhạc quái ác ở đâu sái nhịp với đoàn quân nhạc đàng sau nên đội h́nh bắt đầu lạng quạng. Rất may có tiếng đếm nhịp 1,2,3,4 của anh Trương Văn Như vang lên giúp đội h́nh chỉnh đốn lại và chúng tôi thoát nạn trong đường tơ kẽ tóc.
Lễ Măn Khoá 21 Quân Y Hiện Dịch :

Lớp Y Khoa (1969-1977) và Nha Y Khoa (1969-1974)- H́nh trích từ tài liệu [7]
Lễ măn khóa 21 Quân Y Hiện Dịch được tổ chức vào trung tuần tháng 12 năm 1974. Như mọi năm, lễ măn khóa được tổ chức ba phần gồm Đêm Tưởng Niệm, lễ tuyên thệ có diễn hành gắn lon sáng hôm sau, và party nhẩy đầm tối hôm đó.
Rước quân kỳ cực nhất v́ khi chào phải hạ 90 độ mỏi cả tay trong khi chào quốc kỳ chỉ nghiêng 45 độ.

Trao quốc quân kỳ cho khóa đàn em - H́nh trích từ tài liệu [7]
Theo truyền thống th́ có màn toán hầu kỳ đàn anh trao cờ lại cho khóa đàn em. Tôi nhớ rất rơ lúc rước quốc kỳ qua khán đài th́ táng cái con ó đầu cán cờ vào vành sắt của dù che nắng. Mũi cán cờ cụp xuống và mọi người xanh mặt. Không ngờ đó là điềm chẳng lành báo trước điều bất hạnh sắp đến với đất nước.
Ngoài chuyện đó th́ mọi điều diễn ra rất trôi chảy. Đêm Tưởng Niệm được tổ chức trang trọng với sự hiện diện của một số đàn anh từ chiến trường về. Trường Quân Y mời cả một ban đại ḥa tấu quân đội về chơi rất chuyên nghiệp. Sau lễ tuyên thệ gắn lon th́ có tiếp tân, chụp h́nh lưu niệm và mọi gia đ́nh Tân Sĩ Quan Quân Y đều được tham gia .
Đối với các tân sĩ quan quân y, giây phút xúc động được gắn cặp lon trung úy trên vai áo có lẽ là một trong những thời điểm hạnh phúc nhất của đời người chiến binh Quân Y Hiện Dịch (QYHD).

Những Ngày Cuối Cùng Tan Hàng Cố Gắng - H́nh trích từ tài liệu [7]
Sau lễ măn khóa chúng tôi được học vài buổi về Hành Chánh Quân Y để sửa soạn cho việc nhận đơn vị mới.
Sau đó th́ nhóm Quân Nha chúng tôi được về Tổng Y Viện Cộng Ḥa học về Giải Phẫu Khẩu Xoang trong ba tháng. Học xong th́ cũng đă gần cuối tháng 3 rồi. Theo sự vụ lệnh th́ tôi phải tŕnh diện Tiểu Đoàn 3 Quân Y (Sư Đoàn 3 Bộ Binh) đang đóng tại Ḥa Cầm, Đà Nẵng vào ngày 24/03/1974 (1975 th́ đúng hơn) và được cấp chuyến bay quân sự ra miền Trung.
Ngày 23 tháng 3 năm 1975 được tin Đà Nẵng mất liên lạc, tôi lên tŕnh diện Cục Quân Y để xin chỉ thị. Nha Sĩ Đại Úy Quỳnh nói với tôi "anh phải chấp hành sự vụ lệnh và ra tŕnh diện đơn vị bằng bất cứ mọi giá!" Tôi cảm thấy đúng là như vậy và hơi hổ thẹn đă có ư muốn đẩy trách nhiệm lên cấp trên.
Ngày hôm sau tôi vào phi trường Tân Sơn Nhất chờ chuyến bay. Sau đó th́ chuyến bay chúng tôi bị hủy bỏ v́ phi trường Đà Nẵng đă bị dân tràn ngập. Đà Nẵng chính thức bị thất thủ ngày 29/3/1975.
Ngày hôm sau tôi lại lên tŕnh diện Cục Quân Y th́ Đại Úy Quỳnh cũng không biết phải làm sao, chỉ nói tôi về lại Trường Quân Y đợi lệnh mới.
Sáng 29 tháng 4 năm 1975, tôi xách xe gắn máy đi ḷng ṿng bạn bè hỏi thăm tin tức và thấy cảnh hỗn loạn chung quanh các cơ sở của người Mỹ. Dân chúng bắt đầu lục phá hôi của. Tôi vào phi trường th́ thấy cảnh hoang tàn, xe cộ vứt bỏ ngoài lề, giấy tờ văng tung tóe. Từng toán người ngồi chờ để vào khu USAID. Nếu chịu khó ở lại một lúc, tôi chắc cũng sẽ được máy bay bốc đi. Nhưng tôi lại phóng xe ra khỏi khu vực phi trường đi về trung tâm thành phố. Tạt qua Ṭa Đại Sứ cũng thấy hỗn loạn. Trong ḷng tôi không có chủ đích ǵ cả, chỉ chạy ṿng quanh như người mất hướng.
Đến chiều tôi vào lại Trường Quân Y. Doanh trại im ĺm nhưng trật tự, đồn canh vẫn có người gác. Vào khu nội trú sinh viên th́ thấy c̣n khoảng một chục đàn em, đa số gia đ́nh ở tỉnh nên chưa có phương tiện về. Gặp lại Nha Sĩ Trung Úy Hồ Quang Liêm cùng khóa. Hỏi nó c̣n làm ǵ ở đây th́ hắn nói đang sửa soạn rút dù đây. Đại úy Trần Mạnh Anh đă ra lệnh giải tán rồi, mạnh ai nấy chạy.
Tôi lên Bộ Chỉ Huy th́ thấy pḥng ốc hoàn toàn trống vắng. Định đi ra th́ chợt nghe tiếng điện thoại réo từ một pḥng kế bên. Tôi nhấc điện thoại lên th́ tiếng nói từ đầu bên kia hỏi tôi là ai và t́nh h́nh trường ra sao. Tôi xưng tên và chức vụ. Giọng nói của người bên kia ra lệnh tôi tập họp tất cả những SVQY c̣n lại qua bên nhà thờ Đồng Tiến, sẽ có trực thăng đến đón. Tôi dạ tuân lệnh, quên không hỏi là ai. Tôi trở vào khu nội trú SVQY tập họp anh em lại và phổ biến lệnh . Mọi người ngó nhau, nửa tin nửa ngờ và chỉ có Hồ Quang Liêm chịu theo tôi qua bên nhà thờ Đồng Tiến. Lúc đó vào khoảng 6 giờ chiều và có một gia đ́nh 6, 7 người cùng đợi với chúng tôi. Một chốc sau quả nhiên có một chiếc Chinook xuống thật. Mọi người vội vàng lên trực thăng. Tôi và Liêm ngó nhau, chỉ cần một thằng quyết định là thằng kia lên theo. Vậy mà chúng tôi chần chừ măi, chiếc Chinook từ từ cất cánh, nhập đoàn với những chiếc trực thăng của TQLC Mỹ đang lập cầu không vận với Đệ Thất Hạm Đội. Chúng tôi buồn rầu trở về Trường Quân Y và Hồ Quang Liêm từ giă tôi.
Tự cảm thấy trách nhiệm của một sĩ quan cấp cao nhất c̣n sót lại của TQY, tôi ghé ra cổng gác, kêu gọi các anh em bố trí canh gác cẩn thận, có ǵ th́ gọi điện thoại cho tôi trong hội quán. Điều đáng khen là cho tới giây phút đó, anh em pḥng thủ trại vẫn giữ vững tinh thần, không để bất cứ người lạ xâm nhập vào trại. Có anh c̣n lăng xăng kéo concertina (**) ra và bố trí một cây đại liên cạnh đồn canh. Nói chung mọi người như rắn mất đầu, chỉ cần một người đứng ra chỉ huy hợp lư th́ tất cả nghe theo ngay.
Trời chạng vạng tối tôi đang ngồi "vểnh" râu ph́ phèo thuốc lá nghe radio trong hội quán th́ ngoài đồn canh gọi vào báo cáo có mấy chiếc xe jeep chở đầy lính dù đ̣i vào.
Tôi phóng xe ra th́ lính gác đă cho họ vào rồi. Vả lại trông họ đằng đằng sát khí, súng ống đầy ḿnh th́ lính kiểng phải né thôi. Họ đậu xe bên đường và tụ họp nơi băi cỏ trước đải tưởng niệm. Tôi tiến lại gần th́ thấy có cả dân sự nữa, ngoài ra có một ông thiếu tá dù, đeo caducée (***), bảng tên th́ thấy đề tên là TUONG. Bác sĩ th́ phe ta rồi, đỡ lo.
Tôi lân la lại chào đàn anh và hỏi thăm cớ sự. Đàn anh nói đợi trực thăng đến. Có muốn đi ké th́ chờ chuyến hai cùng đi với đại ca, chuyến đầu cho đàn bà con nít đi trước. Đàn em hỏi có chắc pilot trở lại không? Đàn anh phán nó phải quay lại. Được một đổi th́ một chiếc UH1B tà tà đáp xuống chỗ quen thuộc của trực thăng Tướng Lê Minh Đảo vẫn thường sử dụng khi thăm gia đ́nh tại cư xá Chí Ḥa. Như đă tính toán, đàn anh Tường cho nhóm phụ nữ và con nít lên trước đầy trực thăng. Chúng tôi nằm dài bên băi cỏ dưỡng sức. Gần hai ngày trời không ngủ được nên tôi thiếp đi không biết trời đất ǵ nữa. Lúc tỉnh dậy th́ thấy đàn anh vẫn ngồi bó gối trầm ngâm cây píp trên môi. Trời đă b́nh minh mà "thảm thần" th́ chẳng thấy đâu. Thấy không xong rồi, tôi chào đàn anh, tắm táp qua loa trong khu nội trú rồi lại lên đường. Lúc này th́ Trường Quân Y đă thật sự bỏ ngỏ, lính canh bỏ đi đâu cả và chẳng c̣n ai trong trại nữa. Có lẽ tôi là người cuối cùng rời bỏ đơn vị.
Lần này tôi trực chỉ bến Chương Dương v́ nghe nói tàu bè đang thi nhau rời bến. Đến nơi th́ thấy dân chúng đang lũ lượt lên tàu lớn tàu bé đủ cả. Tôi vứt xe gắn máy theo đoàn người lên một chiếc tàu khá lớn. Loay hoay một hồi tôi chen được một đứng nh́n ra bến cảng, ḷng tạm yên coi như có đường thoát nạn rồi.
Một tiếng đồng hồ sau th́ cơn nhớ nhà quái ác nổi lên. Trong ḷng ngổn ngang không biết cha mẹ, anh em ra sao. Nhớ lại đêm pháo kích thấy đạn pháo rơi khu Hoàng Hoa Thám, không biết gia đ́nh có việc ǵ không. Bồn chồn một lúc lâu chưa thấy tàu nhổ neo, tôi quyết định đi về. Lần này th́ mất xe rồi phải đi bộ ra. Trên đường ra th́ nghe radio Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Thế là xong. Một quốc gia đă chết.
Đi tới cầu Khánh Hội th́ tự dưng một chiếc xe jeep ngừng lại bên cạnh và có tiếng gọi "Quư, Quư..." Ngoảnh đầu nh́n th́ lại thấy vài anh SVQY, trong đó chỉ nhớ nổi anh Trần Hoàng Long "Vic Morrow" và vài sĩ quan, trong đó có một thiếu tá dù (lại nhẩy dù nữa), tất cả c̣n mặc quân phục chỉnh tề. Lắc đầu từ chối nhưng có người mắng "Ở lại chết với vi xi hả?" Thế là leo lên xe. Lần này có chỉ huy rơ ràng nên chúng tôi răm rắp nghe theo lệnh ông thiếu tá dù. Anh ta bàn sẽ lái xuống G̣ Công và nếu cần sẽ băng Rừng Sát. Sau đó sẽ t́m phương tiện ghe xuồng ra đệ thất hạm đội đang chờ ngoài cửa Cần Giờ. Lái ngang một chi khu bên đường, chúng tôi nhẩy xuống xin bản đồ và ít lương khô, nước mang theo.
Ghé qua căn cứ hải quân Nhà Bè th́ thấy lá cờ Việt Nam Cộng Ḥa c̣n bay phất phới. Chúng tôi mừng rỡ nghĩ là sẽ có tàu hải quân đi. Nhưng hỡi ơi khi vào trong căn cứ th́ thấy vắng ngắt chẳng c̣n ai, tuy có vài chiếc PCB c̣n đậu tại bến.
Anh thiếu tá quyết định đi vào làng chài gần đó để hỏi thăm tin tức. Một vài người dân bu quanh chúng tôi và cho biết cũng có một vài đoàn đă mướn ghe đi ra thuyền lớn rồi. Ngay lúc đó một anh thanh niên mới đưa xong một chuyến tự dưng xuất hiện. Anh thiếu tá kêu gọi mọi người góp tiền lại đưa hết cho anh ta và khẩn khoản nhận thêm một chuyến nữa. Chính tôi cũng tháo cái đồng hồ Seiko đang đeo bỏ thêm vào tiền thưởng. Anh thiếu tá ôm một mớ tiền và tặng vật nhét vào hai tay anh. Thế là xong và chúng tôi lục đục lên chiếc ghe đuôi tôm khởi hành. Tôi đếm đi đếm lại th́ thấy tổng cộng có 13 người không kể tài công. Chẳng biết cách nào mà nhét đủ trên một chiếc xe jeep nổi nữa. Lúc này chúng tôi đă b́nh tĩnh lại và bắt đầu bàn tán to nhỏ với nhau. Thỉnh thoảng dọc theo sông Ḷng Tảo nghe lác đác tiếng súng nổ, cảnh tỉnh chúng tôi là hiểm nguy vẫn c̣n đó.
Ghe chạy được gần hai tiếng đồng hồ th́ gặp một cái ghe bầu khá lớn cũng đang trên đường ra cửa Cần Giờ. Hai bên ơi ới gọi nhau và họ bằng ḷng cho chúng tôi sang ghe. Đột nhiên, tôi quyết định đi về, mặc t́nh mọi người ngăn cản. Lúc đó tôi không hiểu tôi là tôi đă "ăn phải cái giống ǵ" mà hành động như vậy. Tôi đă phải trả giá cho cái quyết định này bằng những năm tù cộng sản, có lúc đă tưởng chừng như không c̣n ngày về.
Có thể nói tôi đă có quá nhiều cơ hội để rời bỏ đất nước mà rốt cuộc trong một buổi chiều tà ngày 30 tháng tư lịch sử, tôi ngồi co ḿnh trên chiếc ghe với anh tài công, từ từ tháo từng cái lon, từng cái huy hiệu thả xuống ḷng sông đang chảy siết, ḷng trĩu nặng một nỗi buồn vô biên.
Cuộc đời binh nghiệp của tôi vỏn vẹn chỉ có vài năm trong Trường Quân Y, chưa được ra đơn vị để sống huynh đệ chi binh với các đàn anh, chẳng có ǵ để đáng tự hào nhưng đă để lại dấu ấn đặc biệt trong tôi. Đó là quăng đời đẹp và hạnh phúc nhất mà tôi đă sống. Tinh thần SVQY đă giúp tôi vượt qua được những gian khổ trong trại tù cải tạo cũng như sau này giúp tôi trải qua những khó khăn của cuộc đời. Lúc nào tôi cũng tự hào là một SVQY.
Trong suốt thời gian 35 năm sau, do sự run rủi con tạo xoay vần, tôi lần lượt được gặp lại một số lớn các bạn bè và đàn anh cũ, ngoài những người đă ra đi. Kỷ niệm ngày xưa vẫn đậm nét trong ḷng. Vui nhất là mọi người vẫn đối xử với nhau chân t́nh như ngày nào và tôi cảm thấy tinh thần SVQY là một truyền thống có thật. Và có thể, tôi sẽ lại là một trong những người cuối cùng được nhận lănh trách nhiệm giữ ngọn lửa này cho đến ngày không c̣n ai nữa... Mặc dù vậy, trong thâm tâm, tôi nghĩ rằng SVQY đă tô đậm khí phách hào hùng và ngang tàng của người lính QLVNCH và lịch sử sau này sẽ phải công nhận điều đó.
Sau đây là tóm tắc các mốc năm tháng quan trọng của Trường Quân Y trích từ tài liệu [12] :
1951: Trường
Quân Y Trung Ương (École Principale du Service de Santé
Militaire) được thành lập do Nghị định
số III/QP/ND ngày 7 tháng 8 năm 1951.
Giám đốc: Y sĩ Trung Tá Phạm Biểu Tâm.
Trụ sở: Bệnh viện Bác sĩ Patterson ở phố
hàng Chuối, Hà Nội.
Số sinh viên gia nhập khóa 1 là 54 người, đa số
là t́nh nguyện thẳng từ các trường Y Dược
và một số tuyển lại từ các sinh viên Y Dược
đă bị gọi động viên tại các trường
Quân Sự Nam Định và Thủ Đức.
1952: Giám Đốc là Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Đ́nh Hào
được bổ nhiệm chức Giám Đốc
Thời gian này Trường Quân Y Trung Ương tổ chức
được chương tŕnh nội trú cho sinh viên quân y.
1954: Y Sĩ Thiếu Tá Đinh Văn Thắng được
bổ nhiệm làm Giám Đốc.
1955: Y Sĩ Thiếu Tá Trần Anh được bổ nhiệm
làm Giám Đốc.
1956: Trường Quân Y Trung Ương giải tán và sát nhập
vào Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y, cơ sở tại
Quân Y Viện Chi Lăng.
Chỉ Huy Trưởng: Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Tăng
Nguyên.
1957: Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y dọn về trụ sở
số 4, Hùng Vương, Chợ Lớn.
Chỉ Huy Trưởng: Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Hữu
Thư
1960: Y Sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức được cử
làm Chỉ Huy Trưởng
1961: Trường lấy lại tên là Trường Quân
Y
Sau 1963, những Chỉ Huy Trưởng kế tiếp là:
1964: Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Quang Huấn.
1964: Y Sĩ Đại Tá Nguyễn Tuấn Phát.
1966: Y Sĩ Trung Tá Trần Minh Tùng.
1969: Y Sĩ Trung Tá Phạm Vận.
1973 - 30 tháng 4, 1975: Y Sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân.
Ngoài những vị Chỉ Huy Trưởng trên c̣n Y Sĩ
Đại Úy Lê Phước Thiện cũng có đảm
nhiệm chức vụ Quyền Chỉ Huy Trưởng
Trường Quân Y (không rơ thời gian nào).
Tổng cộng từ 1953 đến 1975 có 13 vị Giám
Đốc hay Chỉ Huy Trưởng.
Giám đốc, Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ trích từ tài liệu [1]
Họ và Tên - Cấp bậc khi nhậm chức -Tại chức -Chú thích
1 -Phạm Bửu Tâm-Đại Học Quân Y Hà Nội -Y Sĩ Trung Tá -1951-1952 -Chức danh Giám Đốc đầu tiên, giải ngũ ở cấp Y sĩ Đại Tá ;
2 -Nguyễn Đ́nh Hào-Đại Học Quân Y Hà Nội - Y Sĩ Trung Tá -1952-1954 -Sau là Y sĩ Đại Tá ;
3 -Đinh Văn Thắng-Đại Học Quân Y Hà Nội -Y Sĩ Thiếu Tá -1954-1955- Sau là Y sĩ Đại Tá ;
4 -Trần Anh-Đại Học Quân Y Hà Nội - Y Sĩ Thiếu Tá -1955-1956 -Sau là Y sĩ Đại Tá ;
5 -Nguyễn Tăng Nguyên-Đại Học Quân Y Hà Nội -Y Sĩ Trung Tá -1956-1957- Sau là Y sĩ Đại Tá ;
6 -Nguyễn Hữu Thư-Đại Học Quân YHà Nội - Y Sĩ Trung Tá -1957-1960 - Sau là Y sĩ Đại Tá ;
7 -Hoàng Văn Đức-Đại Học Quân Y Hà Nội - Y Sĩ Trung Tá -1960-1963 - Sau là Y sĩ Đại Tá ;
8 -Nguyễn Quang Huấn-Đại Học Quân Y Sài G̣n - Y Sĩ Trung Tá -1963-1964 - Sau là Y sĩ Đại Tá ;
9 -Lê Phước Thiện-Đại học Quân Y Sài G̣n -Y Sĩ Đại úy -1964 -Sau là Y sĩ Trung Tá ;
10 -Nguyễn Tấn Phát-Đại Học Quân Y Sài G̣n -Y Sĩ Trung tá -1964-1970 -Chuyển sang chức danh Chỉ Huy Trưởng, sau là Y Sĩ Đại Tá ;
11 -Trần Minh Tùng (sInh năm 1930 tại Chợ Lớn-Xuất thân từ Thiếu Sinh Quân) -Đại Học Quân Y Sài G̣n - Y sĩ Trung Tá -1970-1972 -Sau lên cấp Đại tá. Tham chính giữ chức vụ Tổng Trưởng Y Tế Việt Nam Cộng Ḥa ;
12 -Hoàng Cơ Lân (Sinh năm 1932 tại Hà Nội) -Đại Học Quân Y Sài G̣n -Y sĩ Đại tá -1972-1975 -Chỉ huy trưởng sau cùng.
Các Chỉ Huy Trưởng nổi tiếng : Phạm Bửu Tâm ,Nguyễn Hữu Thư ,Trần Minh Tùng và Hoàng Cơ Lân .
Vài hàng về Bác Sĩ Ḥang Văn Đức và Bác Sĩ Nguyễn Tuấn Phát trích từ tài liệu [13] :
‘’Tôi vào năm thứ nhất trường Quân Y cách nay nửa thế kỷ (1964) khi Trung Tá Nguyễn Tuấn Phát làm chỉ huy trưởng. Vị chỉ huy trưởng trước đó là bác sĩ Nguyễn Quang Huấn và trước nữa là bác sĩ Ḥang Văn Đức.
Bác sĩ Đức là người có công trong công cuộc xây dựng và đặt nền móng vững chăi cho trường Quân Y, nhưng ông phải rời chức vụ sau chính biến 1963. V́ thế, tôi không được gặp (đúng hơn là được thấy mặt) bác sĩ Đức. Tuy không “kiến kỳ h́nh”, nhưng tôi đă được “văn kỳ thanh” về bác sĩ Đức từ thời trung học, khi được đọc những bài khảo cứu văn nghệ của ông trên báo Chỉ Đạo.
Cũng là một người đa tài, cũng văn là người, trái lại, Bác Sĩ Nguyễn Tuấn Phát, bút danh Anh Tuấn, tác giả cuốn “Một Vài Cảm Nghĩ Của Một Người Thày Thuốc”, lại là một người tính t́nh nghệ sĩ, cởi mở, hiền hậu. Ông cao lớn, bụng hơi to, đeo kính trắng, tướng tá nhanh nhẹn, nói năng họat bát, tiếp xúc đùa giỡn với sinh viên quân y ngay cả với cái lớp hồi đó cắc ké như tôi rất thân mật. Tuy ông chỉ làm chỉ huy trưởng của tôi có một năm, nhưng h́nh như ông là người chỉ huy trưởng duy nhất mà chúng tôi có thể nghe ông nói chuyện và hỏi han những chuyện vu vơ.
Bác sĩ Phát làm chỉ huy trưởng được hơn một năm th́ lên đại tá. Có lẽ v́ ông đă “đụng plafond”, hết chỗ để đi (bác sĩ Vũ Ngọc Ḥan h́nh như lúc đó cũng mới đại tá) nên rời chức vụ chỉ huy trưởng nhường chỗ cho bác sĩ Trần Minh Tùng (lúc đó mới thiếu tá). Tôi nghe nói sau này ông sang làm phụ tá Bộ Chỉ Huy Địa Phương Quân Nghĩa Quân. V́ ĐPQ/NQ làm ǵ có quân y riêng, tôi nghĩ ông chắc là người yêu binh nghiệp nên không giải ngũ, tiếp tục phục vụ quân đội trong một vị trí cố vấn nào đó, ng̣ai hệ thống quân y. ớ lần nói chuyện lâu nhất là thời gian chúng tôi tập dợt diễn hành quốc khánh năm 1964.
Phụ đề : Binh Chủng Quân Y
Theo tài liệu [14] :
Quân Y Việt Nam Cộng Ḥa là một ngành y tế quân sự của Quân lực Việt Nam Cộng ḥa, trực thuộc sự điều hành theo hệ thống hàng dọc của Tổng cục Tiếp vận trong Bộ Tổng Tham mưu.
Thánh tổ binh chủng Quân Y : Hải Thượng Lăn Ông.

Phù hiệu binh chủng Quân Y -H́nh trích từ tài liệu [15]
Lịch sử h́nh thành :
· Tiền thân của ngành Quân Y Việt Nam Cộng Ḥa là Nha Quân Y Trung Ương thuộc Bộ Quốc Pḥng Quốc Gia Việt Nam, thành lập vào ngày 12 tháng 2 năm 1951, đứng đầu là một Giám Đốc do Bộ Trưởng Quốc pḥng bổ nhiệm. Sau khi chính thể Việt Nam Cộng Ḥa được thành lập, ngành quân y vẫn giữ nguyên cơ cấu cũ;
· Ngày 1 tháng 1 năm 1966, Nha Quân Y được đổi tên thành Cục Quân Y, trực thuộc Tổng Cục Tiếp Vận trong Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Cục Quân Y điều hành tất cả các hoạt động chuyên môn y vụ, gồm có các cơ sở điều trị, các đơn vị tiếp vận yểm trợ như: Quân dược, quân khuyển, trung tâm tiếp huyết, chỉnh h́nh và các đơn vị thuộc hệ thống binh đoàn chiến thuật.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngành quân y Việt Nam Cộng Ḥa chấm dứt hoạt động khi chính thể Việt Nam Cộng Ḥa sụp đổ.
Tổ chức và nhiệm vụ
· Cục Quân Y là cơ quan đứng đầu ngành quân y Việt Nam Cộng Ḥa với nhiệm vụ chính là điều trị thương bệnh binh trong hơn 1 triệu quân nhân, cùng phối hợp với các dân y viện để chữa trị cho một phần dân chúng trên toàn quốc gồm: Đô Thành Sài G̣n-Chợ Lớn, 44 Tiểu Khu (tỉnh), 5 Đặc Khu và 194 Chi Khu trong đó có Tổng Y Viện và nhiều Quân Y Viện, Quân Dân Y Viện, Bệnh Viện Tiểu Khu, Trạm Quân Y Chi Khu, các Trung Tâm Chuyên Khoa ;
· Ngành đă thành lập các Tiểu Đoàn QuânYy và phân bổ đến các Quân, Binh chủng với nhiệm vụ yểm trợ theo hoạt động chuyên môn và dưới sự điều động trực tiếp của các đơn vị này.
Giám đốc và Cục trưởng qua các thời kỳ
Họ tên - Cấp bậc tại nhiệm - Chức vụ -Tại chức -Chú thích
1 -Trần Quang Đệ -Y Sĩ Đại Tá - Giám Đốc - 7/1951-6/1952;
2 -Trần Văn Đỗ -Y Sĩ Trung tá - Giám Đốc- 6/1952-6/1954 -Sau lên Y Sĩ Đại tá , sau giải ngũ tham chính Tổng trưởng Ngoại giao (1965-1967) ;
3 -Vũ Duy Thạch- Y Sĩ Trung tá - Giám Đốc- 6/1954-8/1954;
4 -Trần Quang Diệu -Y Sĩ Đại tá - Giám Đốc -1954-1958 -Tổng Trưởng Y tế (1964-1965);
5 -Phạm Văn Hạt- Y Sĩ Đại tá - Giám Đốc -1958-1963;
6 -Vương Quang Trường - Y Sĩ Đại tá - Giám Đốc -1963-1965;
7 -Vũ Ngọc Hoàn -Y Sĩ Trung Tá -Cục trưởng -1965-1973 - Y Sĩ Đại Tá (tháng 4 năm 1965), Y Sĩ Chuẩn Tướng (tháng 6 năm 1968), Y Sĩ Thiếu Tướng (1970)-Phó Tổng Thanh Tra Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1973-1975) ;
8 -Phạm Hà Thanh -Y Sĩ Chuẩn Tướng - Cục trưởng -1973-1975.
Xin ghi thêm tài liệu [16] viết bởi một bác sĩ Quân Y khóa 10 về những vị Bác Sĩ đă làm những cải tỗ sâu rộng cho phép Quân Y thực hiện được nhiều dịch vụ hữu hiệu toàn diện.
‘’Nh́n lại ngành Quân Y và nền Y Tế Việt Nam nói chung, phải vô tư nhận định rằng chỉ sau có 9 năm, từ 1964 tới 1973, sinh hoạt Dịch Vụ Sức Khỏe cung cấp cho Miền Nam Việt Nam, Quân hay Dân, đă thay đổi một trời một vực.
Công việc cải tiến và hiện đại hóa, hệ thống hóa ngành Quân Y nhờ nhiều yếu tố xây dựng.
Việc cải tiến tổ chức Ngành Quân Y khởi sắc được nhờ ở hai nhân tố . Thứ nhất, là nhu cầu dịch vụ cho chiến trường; Thứ nh́ là sự đóng góp của những khuôn mặt trong nguồn nhân lực mới.
Về Nhân lực mới, tôi có thể nêu lên những vị mà tôi biết được trong thời kỳ về phục vụ Cục Quân Y:
1. Bác Sĩ Dương Minh Châu, Chánh Sự Vụ Sở Kế Hoạch, cải tổ ngành Quân Y từ một Nha Quân Y rời rạc, luộm thuộm, không biết cả đến mục tiêu công tác và chức năng của Ngành ḿnh trong tổ chức Quân-lực. Bác Sĩ Châu đă tổ chức lại, cho thành một hệ thống dịch vụ hữu hiệu, đào tạo và xử dụng hết khả năng chuyên môn Y Nha Dược, Hành Chánh, và Phụ Y Tế, cho những đ̣i hỏi của chiến trường và các vấn đề Y Tế chung.
Dịch vụ Sức Khỏe từ đơn vị nhỏ nhất, cấp Quận (Trạm Quân Y Chi Khu, trên 200 Trạm) lên cấp Tỉnh (Bịnh Viện Tiểu Khu -26 bịnh viện Tiểu khu). Đa số các Quận đông Dân, ít bị việt cộng khủng bố, đă có Bác Sĩ Quân Y. Bịnh Viện Tiểu Khu, và Bịnh Viện Tỉnh có ít ra 5 bác sĩ mỗi nơi, và khả năng giải phẫu.
Tiểu Đoàn Quân Y cho mỗi Sư Đoàn : 13 TĐQY cho 11 Sư Đoàn, + TĐQY TQLC, +TĐQY ND.
Cấp Quân Đoàn có Liên Đoàn Quân Y. Liên Đoàn QY cho mỗi Quân Khu, I, II, III, và IV. Mỗi LĐQY trực tiếp điều động Kho Y Dược, Bịnh Viện Dă Chiến, Trung Tâm Hồi Lực, Các Bịnh Việt Tiểu Khu, các Bịnh Xá Chi Khu. Đa số Bịnh Xá Chi Khu có Bác sĩ.
Các Bịnh Viện Tiểu Khu, Bịnh Viện Tỉnh, Quân Y Viện, Bịnh Viện Dă Chiến đều có Bác Sĩ Giải Phẫu được đào tạo qua các Khóa Giải Phẫu. Nhiều khóa Bác Sĩ được huấn luyện và tốt nghiệp Gây Mê cho nhu cầu Giải Phẫu, tới Tỉnh và QYV (Quân Y Viện).
Các Quân Y Viện cũng được nâng cao từ trang bị, tiếp liệu lẫn nhân lực chuyên môn Y Nha Dược, Hành Chánh, Quản Trị và Phục Hồi.
Tất cả công việc cải tổ đều nhờ sáng kiến, sức làm việc, thời giờ và công lao của một người, Bác Sĩ Dương Minh Châu, Chánh Sở Kế Hoạch, từ năm 1964 tới 1973 (nếu tôi nhớ không lầm).
2. Yếu tố nhân lực thứ nh́ là cố Bác Sĩ Vũ Ngọc Hoàn, Cục Trưởng Cục Quân Y.
Thiếu Tướng Hoàn có nhiều ưu điểm hiếm có :
a. Ông luôn sống trong phong cách một trí thức hết ḷng v́ công việc, gắn liền nhân sinh quan nhập thế, tích cực lo cho quân vụ. Cục Trưởng duy nhất thích tới thăm các miền tuyến đầu;
b. Ông đă sống trong một nền y tế tân tiến của Pháp, nh́n biết thế nào là t́nh trạng tiến bộ, khác hẳn những vị Cục Trưởng tiền nhiệm chỉ trưởng thành và an phận trong xă hội thuộc đia mà thôi;
c. Bác Sĩ Cục Trưởng Vũ Ngọc Hoàn biết nghe, và chấp nhận điều hay. Ông mở mắt nh́n, ông lắng tai nghe và biết đánh giá Người Có Tài, và có ḷng, như Bác Sĩ Dương Minh Châu. Cao Xuân An, Trần Văn Khoan, Hồ Quang Nguyên, Nguyễn Văn Nhu, Tạ Văn Quang, Cao Xuân Sơn, …
d. Sau này tới hải ngoại tôi gặp lại Bác Sĩ Hoàn trong sinh hoạt các Hội Y Sỹ Tự Do. Ông vẫn chân thành, vẫn “nhập thế” tích cực, không câu nệ, lúc nào cũng tận tâm v́ chánh nghĩa Tự-do, v́ T́nh đồng nghiệp cho tới những năm cuối đời.
Một Y Sĩ – một Trí Thức chống cộng.
3. Từ bước thành tựu thu hút được sự hợp tác phục vụ của những người có tài, có ḷng như anh Dương Minh Châu, … Cục Quân Y thật sự khởi sắc. Các Y Sĩ Phụ Tá Quân Y Lục Quân (Hoàng Cơ Lân), Không Quân (Nghiêm Xuân Húc) ,Hải Quân (Đặng Tất Khiêm) lôi cuốn thêm nhiều chuyên viên Quân Y khác nữa dấn thân cho Ngành. Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ là một trong những sĩ quan xuất sắc trong kế hoạch phối hợp dịch vụ giữa Quân Y Phi Hành, Tản Thương với các Tiểu-đ̣an Quân Y, các Đại Đội Quân Y Bộ Binh, và Diện Địa khắp 4 vùng chiến thuật ,…
Nhân viên đem kết quả tích cực cho ngành Quân Y, cho cả Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, tiết kiệm được biết bao hư tổn nhân lực của thời kỳ trước khi cải tổ Ngành Quân Y.
Tài năng Dương Minh Châu có duyên may hạp tai, thuận mắt Cục Trưởng Vũ Ngọc Hoàn. Nhờ mối quyên may và ḷng thành của mỗi bên, Người đề xướng và Người trách nhiệm, mối giao t́nh hợp tác xây dựng đă tiến hành trót lọt, trôi chảy và thành tựu.
Về yếu tố nhân sự trong mối duyên lành DMC-CQY, Bác Sĩ Hoàng Cơ Lân, PTQYLQ từ lúc khởi đầu c̣n là Y Sĩ Trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù, anh Lân đă kết tinh cho cơ hội hợp tác dễ dàng trong mục tiêu xây dựng đầy t́nh nghĩa
C̣n có những thành quả khác đem lợi ích thiết thực to lớn cho Công-tác Y Tế phục vụ Sức Khỏe toàn thể 30 triệu Người Dân, Quân cũng như Dân, từ thôn quê tới Thành Thị của Việt Nam Cộng Ḥa nếu nạn mất Miền Nam vô tay cộng sản đừng xấy ra năm 1975. Chương tŕnh Phối Hợp Quân Dân Y (giữa bộ Y Tế và bộ Quốc Pḥng) Việt Nam Cộng Ḥa .
Công tŕnh kiến tạo dang dở; Miền Nam lọt tay xâm lăng cộng ản, anh em tan nát người một phương, .. là nỗi buồn đáng kể nhất cho thời đại chúng ta. Chưa có lớp chuyên gia trí thức nào trải qua cảnh mất mát điêu linh như nỗi niềm cay đắng thế hệ chúng ta phải trải qua khi ôn lại một ngàn năm của Lịch sử Đất Nước.
Đó mới là nỗi thiệt tḥi mất mát thât sự không bao giờ bù đắp. Và ngày hôm nay, nếu phải đối diện chọn lựa lần thứ nh́ cuộc chiến chống độc tài, bảo vệ chánh nghĩa giống như cuộc chiến đă mất ngày qua, tôi sẽ ghi tên tham chiến nữa’’.
Sau hết xin ghi thêm các chi tiết về Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù và Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến , hai binh chủng Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
A-Tiểu Đoàn Quân Y - Sư Đoàn Nhảy Dù
Trích từ tài liệu [17] :
![]()
Huy hiệu Tiểu Đoàn Quân Y – Sư Đoàn Nhảy Dù
Sự h́nh thành và phát triển của đơn vị quân y Sư Đoàn Nhảy Dù đă đi song song với sự trưởng thành của đơn vị nhảy dù Việt Nam qua những giai đoạn chuyển tiếp liên tục từ các đơn vị nhảy dù Pháp cho đến năm 1975 khi Sư Đoàn Nhảy Dù gồm 4 Lữ Đoàn với 15 Tiểu Đoàn tác chiến cùng các đơn vị yểm trợ biệt lập và trở thành một lực lượng trừ bị thiện chiến hàng đầu của QLVNCH.
Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù được chính thức thành lập ngày 1 tháng 6 năm 1968 và là đơn vị Quân Y đầu tiên được thành lập cấp Tiểu Đoàn trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH).
V́ là đơn vị yểm trợ y vụ cho toàn thể quân nhân và gia đ́nh thuộc Binh Chủng Nhảy Dù
nên tiến tŕnh phát triển của Tiểu Đoàn Quân Y cũng là tiến tŕnh phát triển của Binh Chủng Nhảy Dù.
Thời kỳ phôi thai :
Lực lượng Nhảy Dù được chuyển tiếp cho Quân Đội Việt Nam vào ngày 01 tháng 5 năm 1955 với 4 Tiểu Đoàn 1, 3, 5 & 6 Nhảy Dù và được gọi tên là Liên Đoàn Nhảy Dù. Đơn vị Quân Y yểm trợ cho Liên Đoàn Nhảy Dù lúc bấy giờ là Ban Quân Y do Bác Sĩ Thiếu Tá Ngô Thiên Khai, người Trà Vinh, làm Y Sĩ Trưởng và được phụ tá bởi Bác Sĩ Vơ Văn Cửu.
Thời gian này, đơn vị QuânY Nhảy Dù c̣n là một đơn vị nhỏ vỏn vẹn có 5 nhân viên nằm trong Tiểu Đoàn Trợ Chiến như các đơn vị yểm trợ khác do Đại Úy Trịnh Xuân Nghiêm làm Tiểu Đoàn Trưởng, về sau Đại úy Nghiêm lên làm Tham Mưu Trưởng Liên Đoàn, Đại Úy Nguyễn Thọ Lập được chỉ định thay thế.
Sau đó khoảng 1958, để đáp ứng cho nhu cầu chiến trường, Quân Y Nhảy Dù được nâng cấp thành Đại Đội với quân số 155 người và tăng cường thêm một số bác sĩ quân y nữa mà về sau trở thành những cấp chỉ huy cốt cán của Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù,đó là các
Bác Sĩ Văn Văn Của, Hoàng Cơ Lân và Bùi Thế Cầu…
Để yểm trợ cho các cuộc hành quân, các bác sĩ thay nhau đi theo các Tiểu Đoàn Nhảy Dù. Ngoài ra c̣n một toán ứng trực nhảy dù do một y sĩ hướng dẫn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chiến trường khi cần đến.
Ngày 26 tháng 10 năm 1959, Liên Đoàn Nhảy Dù được tăng trưởng thành Lữ Đoàn Nhảy Dù với 2 Tiểu Đoàn 7 & 8 Nhảy Dù và Bộ Chỉ Huy Căn Cứ Hoàng Hoa Thám mới được thành lập. Do nhu cầu gia tăng nên Đại Đội Quân Y Nhảy Dù được tách ra thành một đơn vị biệt lập do Bác Sĩ Văn Văn Của làm Đại Đội Trưởng, quân số Đại Đội Quân Y Nhảy Dù được tăng lên thành 193 người.
Đại Đội Quân Y Nhảy Dù:
Đại Đội Quân Y Nhảy Dù tổ chức 6 Trạm Cứu Thương cho 6 Tiểu Đoàn Nhảy Dù, một dược pḥng, pḥng thử nghiệm, pḥng nha khoa, một bệnh xá, một nhà hộ sinh và Bộ Chỉ Đại Đội với các dịch vụ tiếp liệu hành chánh.
Trạm Cứu Thương Tiểu Đoàn Nhảy Dù gồm một bác sĩ và khoảng 20 hạ sĩ quan và binh sĩ y tá. Mỗi Đại Đội Nhảy Dù được biệt phái 2 y tá, số c̣n lại đi theo Ban Chỉ Huy (BCH) Tiểu Đoàn Nhảy Dù (Chỉ có Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến mới có Y Sĩ Trưởng đi theo Tiểu Đoàn tác chiến trong thời kỳ này). Trạm cứu thương được trang bị đầy đũ thuốc men và y cụ cho việc điều trị
cấp cứu và pḥng ngừa.
Đến năm 1965 với sự thành lập thêm 2 Tiểu Đoàn 2 & 9 Nhảy Dù và Pháo Binh Nhảy Dù, Lữ Đoàn Nhảy Dù được cải danh thành Sư Đoàn Nhảy Dù (SĐND), quân số của Đại Đội Quân Y cũng được tăng lên thành 234 người. Thời gian này Bác Sĩ Hoàng Cơ Lân được đề cử giữ chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội Quân Y Nhảy Dù thay thế Bác Sĩ Văn Văn Của đảm nhiệm chức vụ khác.


Cuối năm 1967, Cục Quân Y tăng phái một Quân Y Viện 50 giường cho Đại Đội Quân Y Nhảy Dù đồng thời quân số Đại Đội gia tăng lên đến 354.
Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù:
Ngày 01 thàng 6 năm 1968,cùng với sự tăng trưởng của Sư Đoàn Nhảy Dù, Đại Đội Quân Y Nhảy Dù chính thức trở thành Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù bởi nghị định 0299/QP/TCTT/ND ngày 13 tháng 3 năm 1968. Bảng cấp số 54–618 phát hành ngày 7/8/1968 ấn định quân số Tiểu Đoàn Quân Y là 663 người. Bệnh Viện 100 giường được tách rời khỏi Cục Quân Y và trở thành cơ hữu của Tiểu Đoàn QuânY Sư Đoàn Nhảy Dù.
Ngày 12 tháng 10 năm 1973 ,Bảng cấp số 54–618A được áp dụng quân số Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù gia tăng lên 743 quân nhân. Bác Sĩ Thiếu tá Hoàng Cơ Lân làm Tiểu ĐoànTrưởng kiêm Y sĩ Trưởng đầu tiên.
Tổ chức của Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù gồm các thành phần như sau:
− Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn;
− Đại Đội Chỉ Huy;
− 3 Đại Đội Quân Y yểm trợ cho 3 LĐND;
− Bệnh Viện Đỗ Vinh;
− Dược Pḥng;
− Pḥng Thí Nghiệm;
− Pḥng Quang Tuyến;
− Pḥng Nha Khoa;
− Nhà Hộ Sinh/ Khu khám bệnh gia đ́nh binh sĩ.
Ngoài ra Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù c̣n phải cung cấp y tá cho các đơn vị biệt lập như Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù...Quân số của Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù bao gồm 25 y sĩ, 5 dược sĩ, 2 nha sĩ,5 sĩ quan Hành Chánh Quân Y và khoảng 600 hạ sĩ quan & binh sĩ y tá.
Các vị Đơn Vị Trưởng liên tục :
1. Y sĩ Thiếu tá Ngô Thiên Khai (1954 – 1958);
2. Y sĩ Đại úy Vơ Văn Cữu (1858 – 1959);
3. Y sĩ Thiếu tá Văn Văn Của (1959 – 01/03/1965);
4. Y sĩ Trung tá Hoàng Cơ Lân (01/03/1965 – 01/02/1970);
5. Y sĩ Trung tá Bùi Thiều (01/02/1970 – 20/02/1972);
6. Y sĩ Trung tá Vũ Khắc Niệm (21/02/1972 – 05/11/1973);
7. Y sĩ Thiếu tá Trần Đức Tường (06/11/1973 – 30/04/1975).
Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn:
Gồm Văn pḥng TĐT kiêm Y sĩ Trưởng, TĐP và các SQ Hành Chánh Quân Y như:
SQ quân số (Ban nhân viên), SQ Hành chánh, tài chánh, SQ An Ninh, SQ Tâm Lư Chiến,SQ Tiếp Liệu và Thường Vụ Tiểu Đoàn.
Đại Đội Chỉ Huy:
Trách nhiệm yểm trợ, bảo tŕ, cung cấp nhân lực và các phương tiện tiếp liệu, truyền tin, quân xa... cho Tiểu Đoàn tại hậu cứ cũng như khi hành quân. Đại Đội Chỉ Huy được đặt dưới quyền của một Y Sĩ Đai Đội Trưởng, người Đại Đội Trưởng đầu tiên là Bác sĩ Lê Văn Châu.
3 Đại Đội Quân Y Lữ Đoàn :
Mỗi Lữ Đoàn Nhảy Dù có một Đại Đội Quân Y yểm trợ gồm có 1 hoặc 2 y sĩ, 1dược sĩ, một sĩ quan hành chánh quân y để điều hành đơn vị.
– ĐĐ1 Quân Y Nhảy Dù đồn trú trong căn cứ Hoàng Hoa Thám yểm trợ cho LĐIND,ĐĐT đầu tiên là Bác Sĩ Đoàn Văn Bá ;
– ĐĐ2QYND đồn trú tại Căn Cứ Long B́nh yểm trợ cho LĐIIND. ĐĐT đầu tiên là Bác Sĩ Trần Trọng Nghị ;
– ĐĐ3QYND đồn trú trong căn cứ Hoàng Hoa Thám yểm trợ cho LĐIIIND. ĐĐT đầu tiên là Bác sĩ Trần Đoàn.;
– Đại Đội Quân Y/Lữ Đoàn được trang bị rất nhẹ để sẵn sàng cùng đơn vị di chuyển khi chiến thuật đ̣i hỏi cũng đă cố gắng kiện toàn về mọi mặt để việc thâu lựa thương binh được hoàn hảo hầu di tản được các thương binh trong các t́nh trạng tốt về các Quân Y viện điều trị trong vùng hành quân.
– Trong 2 năm cuối 1974 & 1975 ,TĐQYND c̣n thành lập thêm các Trạm CứuThương để đáp ứng nhu cầu cho các Tiểu Đoàn Nhảy Dù và Lữ Đoàn IV Nhảy Dù tân lập.



Bệnh Viện Đỗ Vinh:
Bệnh Viện mang tên người Y SNhảy Dù đầu tiên đă hy sinh ngày 31 tháng 3 năm 1965 tại mặt trận Quảng Tín v́ đạn pháo của địch trong lúc ông đang săn sóc cho thương binh. Tuy là một Quân Y Viện cấp 2, nhưng cũng đă cố gắng cải thiện về mọi mặt để cung ứng đầy đủ các dịch vụ điều trị hữu hiệu và thích hợp với các khó khăn và nguy hiểm của Binh chủng
Nhảy Dù nói chung và của các Chiến Binh Nhảy Dù nói riêng, Y Sĩ Trưởng đầu tiên của
bệnh viện Đỗ Vinh là Bác sĩ Hoàng Cơ Lân.
Bệnh viện lúc đầu chỉ là một bệnh xá nhỏ chừng 20 đến 30 giường trên tầng lầu của Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù để điều trị các thương bệnh binh nhẹ của Sư Đoàn Nhảy Dù, với một pḥng ngoại chẩn để khám bệnh và tái khám các thương bệnh binh trước khi trả lại đơn vị. Y Sĩ của bệnh viện cũng c̣n chịu trách nhiệm khám bệnh cho các tân binh nhảy dù trước khi gia nhập đơn vị.
Với đà chiến tranh gia tăng và để giải tỏa phần nào gánh nặng cho Tổng Y Viện Cộng Ḥa và bằng sự yểm trợ của Bộ Tư Lệnh Không Quân và các cố vấn Hoa Kỳ một khu nhà tiền chế với đầy đủ phương tiện được xây cất trong khuôn viên Tiểu Đoàn QuânY Sư Đoàn Nhảy Dù để bành trướng bệnh viện Đỗ Vinh lên đến 100 giường.
Bệnh viện Đỗ Vinh có 4 đến 5 bác sĩ điều trị và một Y Sĩ Trưởng. Bệnh viện có khả năng giải phẫu tất cả các trường hợp thông thường, tê mê tổng quát và săn sóc hậu giải phẫu. Bệnh viện cũng có khả năng điều trị hầu hết mọi trường hợp nội thương.
Bệnh viện Đỗ Vinh cũng được Cục Quân Y cho phép thành lập Hội Đồng Y Khoa riêng biệt để xem xét những trường hợp thương tích nặng.
Pḥng Nha Khoa:
Pḥng Nha Khoa của Sư Đoàn Nhảy Dù trách nhiệm săn sóc, chữa trị và pḥng ngừa các chứng bệnh về răng, lợi cho toàn thể quân nhân và gia đ́nh thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù.
Pḥng Nha khoa được điều hành bởi 2 nha sĩ. Vị nha sĩ đầu tiên là Nha sĩ Đỗ Thế Duyệt.
Pḥng Thí Nghiệm và Dược Pḥng :
Pḥng Thí Nghiệm của Sư Đoàn Nhảy Dù có khả năng của một quân y viện với đầy đủ trang thiết bị cho hầu hết các pḥng thí nghiệm thông thường. Trưởng pḥng thí nghiệm và dược pḥng là một Dược sĩ kinh nghiệm kiêm nhiệm trưởng ban tiếp liệu Y Dược. Dược sĩ Phạm Kỳ là người DS đầu tiên trong chức vụ này.
Pḥng Quang Tuyến :
Pḥng Quang Tuyến của Sư Đoàn Nhảy Dù có khả năng chụp tất cả các loại phim thông thường và có chuyên viên thường trực ngày đêm để đáp ứng những trường hợp khẩn cấp.
Nhà Hộ Sinh/Khu Khám Bệnh :
Tọa lạc trong khu gia binh căn cứ Hoàng Hoa Thám, hai cơ sở này là một điểm son của
Sư Đoàn Nhảy Dù, v́ nó trực tiếp săn sóc sức khoẻ cho hằng ngàn gia đ́nh quân nhân
nhảy dù. Tất cả mọi dịch vụ y khoa đều hoàn toàn miển phí.
Tuyên dương công trạng.
Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù được ân thưởng như sau:
- 1 lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội. Hiệu kỳ được ân thưởng dây biểu
chương mầu Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu ;
- 1 lần được Dân Vụ Bội Tinh với nhành Thiên Tuế do CL số 1003/TTM/TQT/DVBT ngày 3/12/1970.
B- Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến

Huy hiệu Tiểu Đoàn Quân Y TQLC- H́nh trích từ tài liệu [18]
Trích từ tài liệu [19] :
‘’Tiểu đoàn Quân Y Thủy
Quân Lục Chiến Việt Nam thành lập 1968 cùng với
Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến sau Tết Mậu
Thân :
* Vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quân Y
Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam kiêm nhiệm Y sĩ
trưởng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, từ
ngày thành lập 1968 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 là: Y
sĩ Trung tá Nguyễn Văn Thế;
* Tiểu đoàn phó kiêm Y sĩ Phụ tá Quân Y Thủy Quân Lục
Chiến Việt Nam từ 1968 đến 30/4/1975 là: Y sĩ
Thiếu tá Trần Mạnh Tường.
Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến Việt
Nam được tuyên dương công trạng trước
Quân Đội sau trận đánh Hạ Lào tháng 2/1971.
* Quân số : 1200
- Bác sĩ : 50 (từ cấp Trung đội Quân Y và Bệnh
xá trở lên);
- Nha sĩ : 3;
- Dược sĩ : 8;
- Sĩ Quan Hành Chánh Quân Y : 16.
Quân Y Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam biệt lập,
không trực thuộc Binh chủng Hải Quân.
Các Sĩ quan từ Y sĩ, Nha sĩ, Dược sĩ,
Sĩ quan Hành Chánh Quân Y đều do Cục Quân Y Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa bổ sung.
Hạ Sĩ Quan và Binh sĩ Quân Y Thủy Quân Lục Chiến
là cơ hữu của Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tiểu đoàn Quân Y tự tuyển mộ các binh sĩ Quân
Y và đào tạo thành Y tá, chuyên viên, v.v...
Các thương binh từ các Đơn vị Thủy Quân Lục
Chiến nhập viện Bệnh viện Lê Hữu Sanh
đều được thuyên chuyển về Khối Thặng
Số Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến
Bệnh viện Lê Hữu Sanh: Vốn là Bệnh xá Cửu
Long Thủy Quân Lục Chiến. Bệnh xá này được
thành lập cùng với Đại đội Quân Y Thủy
Quân Lục Chiến lúc Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến
Việt Nam ra đời vào cuối thập niên 50.
Bệnh xá Cửu Long bắt đầu với 20 giường
và sau đó tăng lên 50 giường cùng với sự
tăng trưởng của Lữ đoàn Thủy Quân Lục
Chiến.
Trong năm 1968, trong thời gian Tết Mậu Thân giao tranh
với việt cộng tại Thị Nghè, Hạnh Thông Tây,
G̣ Vấp không di tản thương binh đến Tổng
Y Viện Cộng Ḥa. Bệnh xá Cửu Long điều trị
trên 250 thương binh, bước đầu trong việc
trưởng thành của Bệnh viện Lê Hữu Sanh sau nầy.
Bệnh xá Cửu Long đặt tại Trại Cửu
Long, Thị Nghè. Được đổi là Bệnh viện
Lê Hữu Sanh từ ngày 1/10/1968, lúc thành lập Tiểu
đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến và cùng dời về
Rừng Cấm vào năm 1969.
Cố Bác sĩ Lê Hữu Sanh, thuộc khóa 12 Quân Y hiện dịch,
tử trận tại Miền Trung lúc phục vụ với
tư cách là Y sĩ trưởng Tiểu đoàn 5 Thủy
Quân Lục Chiến.
Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến cùng với
Bệnh viện Lê Hữu Sanh tọa lạc tại Rừng
Cấm, Thủ Đức, trong Căn cứ Sóng Thần từ
năm 1969.
Bệnh viện Lê Hữu Sanh và Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến (căn cứ?) do hăng thầu Mỹ R.M.K. và Công Binh Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam xây cất theo lối chữ thập Evacuation Hospital của Mỹ trong một khoảng đất diện tích 18 mẫu tây.
Y Sĩ Trưởng Bệnh
viện là:
- Y sĩ Thiếu tá Trần Mạnh Tường, từ
1968 đến 1970;
- Y sĩ Thiếu tá Trương Minh Cường, từ
1970 đến 1972;
- Y sĩ Thiếu tá Trần Công Hiệp, từ 1972 đến
1975.
Các Đại đội Quân Y Thủy Quân Lục Chiến
Việt Nam:
- Đại đội trưởng các Đại đội
Quân Y thuộc Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến
đều kiêm nhiệm chức vụ Y sĩ trưởng
Lữ đoàn.
- Đại đội Quân Y Lữ đoàn hoạt động
theo các Lữ đoàn đóng quân, theo Bộ chỉ huy Lữ
đoàn và thành lập một Bệnh xá hành quân 50 giường.
- Khối Thặng số Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục
Chiến do Thiếu tá Tô Văn Cấp, Sĩ quan Hiện dịch
Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, một cựu
thương binh chỉ huy. Khối thặng số có từ
1000 đến 9000 Thương Bịnh binh nhất là sau chiến
trường Hạ Lào và Quảng Trị.
Những thành phần
chuyên môn của Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến
Việt Nam, gồm:
* Đại
đội Thâu Lựa Thương Lữ đoàn 147 Thủy
Quân Lục Chiến :
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục
Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục
Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục
Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 14 Thủy Quân Lục
Chiến.
* Đại đội Thâu Lựa Thương Lữ
đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến :
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục
Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 5 Thủy Quân Lục
Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục
Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 16 Thủy Quân Lục
Chiến.
* Đại đội Thâu Lựa Thương Lữ
đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến :
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục
Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục
Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 9 Thủy Quân Lục
Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục
Chiến.
* Tiểu đội Quân Y Tiểu đoàn 1 Pháo binh Thủy
Quân Lục Chiến .
* Tiểu đội Quân Y Tiểu
đoàn 2 Pháo binh Thủy Quân Lục Chiến.
* Tiểu đội Quân Y Tiểu đoàn 3 Pháo binh Thủy
Quân Lục Chiến.
* Bệnh viện Lê Hữu Sanh Thủy Quân Lục Chiến
- 250 giường.
* Bảo Sanh Viện Thủy Quân Lục Chiến - 30 giường.
* Bệnh viện Thủy Quân Lục Chiến hành quân - 100
giường.
* Khối Thặng Số Thương Bịnh Binh Thủy
Quân Lục Chiến.
* Bệnh xá Bộ Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến.
* Bệnh xá Trung Tâm Huấn Luyện Thủy Quân Lục Chiến’’.
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Qu%C3%A2n_y_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Trường Quân Y Việt Nam Cộng Ḥa.
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa .
3. https://linhvnch.wordpress.com/truong-quan-y-vnch/ Trường Quân Y VNCH .
4. www.svqy.org/frame/NsPdf.PDF Phỏng vấn cụ Hoàng Viết Khánh- Hai mươi năm với trường Quân Y .
5. https://www.svqy.org/quy.html Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y- Những Kỷ Niệm Không Bao Giờ Quên Thời Sinh Viên Quân Y -Lê văn Quư .
6. Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y Hiện Dịch - Những Kỷ Niệm Không Bao Giờ Quên Thời Sinh Viên Quân Y - QYHD/NK-21 Lư Văn Quư mùa hè 2010 tại Orange County, California.
7. https://hung-viet.org/a7161/nhung-ky-niem-khong-bao-gio-quen-thoi-sinh-vien-quan-y 14 Tháng Tám 2011 Những Kỷ Niệm Không Bao Giờ Quên Thời Sinh Viên Quân Y - Lư Văn Quư -14 Tháng Tám 2011 .
8. https://petruskyaus.net/mot-so-net-ve-hanh-nghe-y-si-tai-mien-nam-truoc-1975-tran-van-nam/ MỘT SỐ NÉT VỀ HÀNH NGHỀ Y SĨ TẠI MIỀN NAM TRƯỚC 1975 - Trần Văn Nam (Trích: Trần Văn Nam 80 năm cuộc đời) .
9. https://hung-viet.org/a13962/thuong-si-da-trauCó Một Trường Quân Y -Hà Mạnh Tuấn - 01 Tháng Tư 2013 .
10. https://hung-viet.org/author/post/7095/1/le-phu-tho Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y (Sài G̣n, Năm 1959) Lê Phú Thọ .
11. Vương Hồng Sển-Sài g̣n Năm Xưa – Sống Mới-1960 .
12. https://www.svqy.org/lichsu.html Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y Hiện Dịch - LỊCH SỬ TRƯỜNG QUÂN Y - Diễn Đàn Sinh Viên Quân Y © 2013 - QYHD Phạm Anh Dũng (Ghi lại và hiệu đính từ quyển sách Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa do BS Trần Xuân Dũng thực hiện và phát hành năm 2000).
13. https://svqy.org/2015/4-2015/ysidaita/ysidaita.html Y Y Sĩ Đại Tá Nguyễn Tuấn Phát – Một người đa tài-Hoàng Dung.
14. https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_y_(Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a) Quân Y (Việt Nam Cộng Ḥa) .
15. https://linhvnch.wordpress.com/nganh-quan-y-vnch/ Ngành Quân Y VNCH .
16. https://www.svqy.org/quany.html Vài nét về Ngành Quân Y QLVNCH - QYHD-Khóa 10 Nguyễn Đức Liên .
17. file:///E:/Quan%20truong/Nhay%20du%20TAI%20LIEU/TS-TieuDoanYemTro-SDND.pdf Các Đơn Vị Yểm Trợ Sư Đoàn Nhảy Dù - Tóm Lược Tiểu Sử Tiểu Đoàn Quân Y- Sư Đoàn Nhảy Dù.
18. https://nhayduwdc.org/st/hhqlvnch/hhtqlc/ndwdc_st_hhqlvnch_hhtqlc_2017MAY06.htm#HH Huy Hiệu Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
19. http://tqlcvn.org/chiensu/cs-cuocdoi-ysi-tqlc.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Thủy Quân Lục Chiến- Một đoạn đường trong cuộc đời Y Sĩ TQLC -MX Nguyễn Văn Thế.
7- Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh - Cam Ranh-Khánh Ḥa
Theo tài liệu [ 1] : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh được thành lập vào năm 1952 tại Cam Ranh,tỉnh Khánh Ḥa. Trung Tâm này trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn, có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo Hạ Sĩ Quan và Thủy Thủ cho quân chủng Hải Quân .
(Xem thêm lược sử thành lập Quân Chủng Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa trong bài Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang của cùng tác giả) .
Theo tài liệu [ 2] : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh đồn trú trong Quân Cảng Cam Ranh , là nơi đào tạo chuyên môn cho Thủy Thủ, góp phần duy tŕ khả năng vận hành các Chiến Hạm hiện đại.
Tài liệu [3] cũng viết tương tự : Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh là trường đào tạo thủy thủ, lính tàu cơ bản.

Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân -Chi Nhánh Cam Ranh – H́nh trích từ tài liệu [4]

Vịnh Cam Ranh năm 1968 -H́nh trích từ tài liệu [5]
Theo tài liệu [6] & [7] : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh là một trong ba (3) Trung Tâm Huấn Luyện chính của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà . Hai Trung Tâm kia là : TrungTâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang và Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sàig̣n.
Hơn nửa,theo tài liệu [8] :
Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang có 4 trường:
1. Trường Sĩ Quan Chỉ Huy và Cơ Khí;
2. Trường Sơ Đẳng Chuyên Nghiệp;
3. Trường Trung Đẳng Chuyên Nghiệp;
4. Trường Tân Binh Hải Quân .
Trường Trung Đẳng Chuyên Nghiệp ,Trường Sơ Đẳng Chuyên Nghiệp và Trường Tân Binh Hải Quân có nhiệm vụ đào tạo Hạ Sĩ Quan chuyên nghiệp và thủy thủ chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp.
Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh cũng có nhiệm vụ tương tự.Vậy th́ hai Trung Tâm này phài có một mối liên hệ nào đó ?
Thật vậy ,theo tài liệu [9] : Khoảng năm 1965 ,Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh (TTHL/Cam Ranh) c̣n trực thuộc quyền của Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang (TTHL/Nha Trang). Chúng tôi (tác giả tài liệu [9] ) đă phải thường xuyên lái xe xuống Cam Ranh để tham dự các lễ măn khóa Sơ Đẳng Chuyên Nghiệp và theo dơi công việc xây cất Trung Tâm Huấn Luyện (Cam Ranh) mới do nhà thầu RMK phụ trách song song với việc xây cất Quân Cảng, sân bay và căn cứ Hoa Kỳ trên bán đảo Thủy Triều.
Vị Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh lúc bấy giờ là Trung Tá Nguyễn Văn Hợp.
Bên cạnh TTHL/Cam Ranh là Trung Tâm Huấn Luyện Người Nhái. Những căn nhà đồ sộỉ được xây cất đẹp đẽ, các sân trọng pháo, pḥng tai được thiết lập.
Ngoài ra,theo tài liệu [7] : Năm 1965, nhiệm vụ đào tạo tân binh do Trung Tâm Huấn Luyện Hải Thuyền ngày trước đảm trách, nay đổi tên là Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh đảm nhận .
Mặt khác theo tài liệu [10] : Năm 1963, Trung Trung Tâm Huấn Luyện Hải Thuyền tại Phú Quốc được dời về Cam Ranh.
(Xem thêm chi tiết về Lực lượng Hải Thuyền trong phần Phụ đề dưới đây).
Theo tài liệu [9] : Vào khoảng năm 1970 (Vào tháng 2 năm 1968 theo tài liệu [10] ) , do bởi chương tŕnh Việt Nam hóa chiến tranh, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa được bành trướng. Kế hoạch ACTOV (Accelerated Turn Over to Vietnam) đă được khởi sự với sự chuyển giao các PBR cho Hải Quân Việt Nam.
Về phần thủy thủ, quân trường Cam Ranh (TTHL/Cam Ranh) lúc đó đă nhận huấn luyện tất cả các khóa căn bản quân sự và sơ đẳng chuyên nghiệp. Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang (TTHL/Nha Trang) chỉ đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan.
Dần dần khả năng huấn luyện căn bản quân sự của Cam Ranh (TTHL/Cam Ranh) cũng không cung ứng nổi cho việc đào tạo thủy thủ và sĩ quan. Những người bị động viên các lớp sau phải được gửi đi Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở Gia Định để huấn luyện quân sự, do đó mới nẩy ra danh từ “Các Khóa Lưu Đầy” là các khóa Hải Quân do bộ binh đào tạo Căn Bản Quân Sự. Trường Hạ Sĩ Quan (Đồng Đế) tại Nha Trang cũng đào tạo các sĩ quan đoàn viên là các Thượng Sĩ để trở thành các Chuẩn Úy đoàn viên.

Thiệp chúc Tết của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh năm không xác định - H́nh trích từ tài liệu [11]
Phụ đề : Lực Lượng Hải Thuyền
Theo tài liệu [12] :
Lực lượng Hải Thuyền (tiếng Anh: Junk Force) tên gọi chính thức là Lựcl Lượng Duyên Hải là đơn vị an ninh Hải Quân của Việt Nam Cộng Ḥa, bao gồm Thường Dân được Hải Quân huấn luyện và kết hợp cùng với Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng ḥa.
Lực lượng Hải Thuyền được thành lập vào năm 1960 ( Tháng 3 năm 1959 theo tài liệu [10] ) .
Kế hoạch ban đầu dành cho Lực Lượng Hải Thuyền do Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa, Đại Tá Hồ Tấn Quyền soạn thảo, phải cần tới 420 thuyền mành và 63 thuyền cơ giới được đặt dưới sự điều khiển của 2.200 thường dân đến từ các làng chài địa phương, để tuần tra vùng nước ven bờ cách bờ biển tới 5 dặm (8,0 cây số).
Đại Tá Hồ Tấn Quyền hy vọng lực lượng của ông sẽ ḥa nhập một cách tự nhiên với mấy tàu đánh cá ven biển, cho phép các đơn vị này giữ được bí mật danh tính thực sự cho tới lúc họ tiếp cận một chiếc thuyền đáng ngờ để thực hiện nhiệm vụ t́m kiếm và lên tàu.

Ảnh chụp Lực Lượng Hải Thuyền đang thả neo năm 1962-H́nh trích từ tài liệu [11]
Đến cuối năm 1963, Lực Lượng Hải Thuyền đă tăng lên 632 thuyền và 3.700 thủy thủ đoàn dân sự.
Bất chấp nhiều vấn đề, chỉ riêng trong năm 1963, Lực Lượng Hải Thuyền và Lực Lượng Đường Biển, một lực lượng nước sâu gồm các tàu lớn hơn, đă kiểm tra 127.000 thuyền mành và 353.000 ngư dân. Ngoài ra, Lực Lượng Hải Thuyền c̣n bắt giữ 2.500 nghi phạm cộng sản và Lực lượng Đường Biển bắt giữ 500 người khác.
Vào đầu năm 1965, Lực Lượng Hải Thuyền gồm 526 thuyền mành được biên chế cho 28 sư đoàn Lực Lượng Hải Thuyền trải dọc theo toàn bộ bờ biển miền Nam Việt Nam.
Lực Lượng Hải Thuyền được sáp nhập lực lượng này vào Hải Quân chính quy vào tháng 7 năm 1965.
Đến năm 1967, Lực Lượng Hải Thuyền bao gồm 27 hải đội ven biển đóng tại 22 địa điểm trải dài dọc bờ biển miền Nam Việt Nam. Mỗi căn cứ bao gồm khoảng 10 thuyền mành và 148 thủy thủ. Hầu hết thuyền viên chỉ mới học hành có vài năm, sống trong điều kiện thô sơ, xa cách những tiện nghi thoải mái của các thị xă hoặc thành phố lớn.
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. Hải Quân QL.VNCH De Nguyen- Quân Cảng Cam Ranh.
3. Nguyễn Tấn Hưng- Một Đời Để Học-Làng Văn, Gia Nă Đại-1988.
4. https://www.facebook.com/groups/767961940630487/posts/1634414067318599/ Miền Nam và Sài G̣n Xưa - Nguyễn Tuấn Hoàng- 26 juin 2024- Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân..Chi Nhánh Cam Ranh.
5. https://36hn.wordpress.com/2016/08/07/nhung-hinh-anh-hiem-co-ve-can-cu-cam-ranh-nam-1968/ 36hn Những h́nh ảnh hiếm có về căn cứ Cam Ranh năm 1968 – Posted by 36hn on Tháng Tám 7,2016.
6. http://navygermany.gerussa.com/main/diendanbandoc/trungtamHLHQNT/trungtamHLHQNT_01.htm Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang- Nguyễn Tấn Đơn- Mùa Xuân Sydney Năm 2001.
7. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/07/29/truong-si-quan-hai-quan-nha-trang-hoc-vien-hai-quan-vnch/ ḍng sông cũ Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, Học Viện Hải Quân VNCH - Posted on July 29, 2025 by dongsongcu - Trích đăng từ trang nhà: https://hosovnch.blogspot.com/ By Lieutenant Commander Richard L. Madouse, U. S. Navy- March 1969 _ Proceedings - Thềm Sơn Hà.
8. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Nha_Trang Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.
9. https://benxua.wordpress.com/2018/12/18/huan-luyen-hai-quan-vnch-hai-quan-da%CC%A3i-ta-bui-hu%CC%83u-thu/ Bến xưa Huấn Luyện Hải Quân VNCH-Hải Quân Đại Tá Bùi Hữu Thư .
10. https://daihocsuphamsaigon.org/index.php/bien-kh-o/34-diepmylinh/1466-haiquanrakhoi?start=1 - Chương 1-Sơ Lược Lịch Sử Hải Quân VNCH.
11. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ – 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm.
12. https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%B1c_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_H%E1%BA%A3i_thuy%E1%BB%81n Lực Lượng Hải Thuyền.
8- Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sàig̣n – Sàig̣n
Theo tài liệu [1] : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sàig̣n được thành lập vào năm 1952 tại Sài g̣n , trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn, có nhiệm vụ huấn luyện bổ túc về phương diện chỉ huy và tham mưu cho Sĩ Quan Hải Quân,Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
(Xem thêm lược sử thành lập Quân Chủng Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa trong bài Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang của cùng tác giả) .
Theo tài liệu [2] : Trường Chỉ Huy Tham Mưu Hải Quân (hay Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sàig̣n) được đặt trực thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc nằm bên trong ṿng thành Hải Quân Công Xưởng ở Sàig̣n.
Và theo tài liệu [3] : Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc ở Sàig̣n là trường tu nghiệp dành cho các sĩ quan trung cấp và cao cấp.

Cổng Hải Quân Công Xưởng năm 1966-72-H́nh trích từ tài liệu [4]

Huy hiệu Hải Quân Công Xưởng-H́nh trích từ tài liệu [5]
Theo tài liệu [6] : Hải Quân Công Xưởng được Pháp chính thức chuyển giao cho Hải Quân Việt Nam vào ngày 14 tháng 9 năm 1956.
Tài liệu tham khào :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. https://benxua.wordpress.com/2018/12/18/huan-luyen-hai-quan-vnch-hai-quan-da%CC%A3i-ta-bui-hu%CC%83u-thu/ Bến xưa Huấn Luyện Hải Quân VNCH – Hải Quân Đại Tá Bùi Hữu Thư.
3. Nguyễn Tấn Hưng- Một Đời Để Học-Làng Văn, Gia Nă Đại-1988.
4. https://www.facebook.com/groups/408554884368386/posts/1353849986505533/ SAIGON KỶ-NIỆM - Thy Anh - Hải Quân Công Xưởng - Sàig̣n 1966-72.
5. https://dongsongcu.wordpress.com/2019/08/09/luoc-su-hqvnch-hai-quan-cong-xuong-sai-gon/ ḍng sông cũ - Lược sử HQVNCH: Hải Quân Công Xưởng Sàig̣n Posted on August 9, 2019 by dongsongcu .
6. https://daihocsuphamsaigon.org/index.php/bien-kh-o/34-diepmylinh/1466-haiquanrakhoi?start=1 - Chương 1-Sơ Lược Lịch Sử Hải Quân VNCH.
9- Trung Tâm Huấn Luyện Tuần Giang Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa -Cát Lái-Gia Định
Theo tài liệu [1] : Trung Tâm Huấn Luyện Tuần Giang Hải Quân được thành lập vào năm 1952, tại Nhà Bè -Gia Định, trực thuộc Tổng Cụ Quân Huấn, có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo Quân Cảnh và Giang Cảnh Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.
(Xem thêm lược sử thành lập Quân Chủng Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa trong bài Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang của cùng tác giả) .
Sau đây là chi tiết thành lập Liên Đoàn Tuần Giang trích từ tài liệu [2] :
Thành Lập
Để đáp ứng nhu cầu chiến trường, Lực Lượng Giang Pḥng được thành lập đặt dưới sự Chỉ Huy của Hải Quân Trung Tá Trần Văn Chơn và trực thuộc Bộ Tư Lệnh Địa Phương Quân.
Hơn nửa theo tài liệu [3] : Năm 1962 tháng 2, Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Giang Pḥng được thành lập đặt dưới sự chỉ huy của Hải Quân Trung Tá Trần Văn Chơn và trực thuộc Bộ Tư Lệnh Địa Phương Quân.
Theo tài liệu [4] : Trước đây Liên Đoàn Tuần Giang thuộc Địa Phương Quân, sau đó được sáp nhập vào Hải Quân .
Xin ghi thêm,theo tài liệu [5] : Đầu năm 1961, Trung Tá Trần Văn Chơn kiêm nhiệm thêm chức vụ Phụ tá cho Đại tá Dương Ngọc Lắm, Tổng Giám Đốc Bảo An và Dân Vệ tiền thân của Địa Phương Quân và Nghĩa Quân .
Đến tháng 2 năm 1962, Trung Tá Trần Văn Chơn nhận nhiệm vụ mới với chức vụ Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Tuần Giang (sau cải danh thành Liên Đoàn Tuần Giang Địa Phương).
Về sau, danh xưng Lực Lượng Giang Pḥng được đổi thành Liên Đoàn Tuần Giang, trực thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân.
Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn Tuần Giang đặt tại Sàig̣n.
Theo tài liệu [6] : Từ năm 1959 đến năm 1966, qua nhiều vị Tư Lệnh, Hải Quân Đại tá Trần Văn Chơn, được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Liên Đoàn Tuần Giang, một tổ chức phụ thuộc của Hải Quân, có nhiệm vụ hổ trợ cho các tỉnh trong Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật. Một đơn vị khiêm tốn, hầu như ít được nhắc đến v́ ít có công trận, không có công tác ǵ quan trọng.
Khi các Tiểu khu cần hoạt động lớn, th́ các địa phương lại nhờ các đơn vị thiện chiến của Hải Quân là các giang đoàn xung phong, và đôi khi có các chiến hạm loại đổ bộ, với hỏa lực hùng hậu, hổ trợ.
Từng là Tư lệnh Hải Quân, bây giờ là Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Tuần Giang, một cái bóng mờ bên cạnh một Hải Quân đang bắt đầu lớn mạnh. Dù b́nh tĩnh cách nào, ai cũng thấy là Đại Tá Chơn, sau khi du học Mỹ về đă xuống chức thấy rơ.
Bộ chỉ huy Liên Đoàn Tuần Giang đóng bên bờ sông Sàig̣n, Thủ Thiêm, hầu như đối diện với Bộ Tư Lệnh Hải Quân đồ sộ ở bên này bờ sông. Suốt mấy năm ở chức vụ này, anh em Hải Quân hầu như đă quên Đại tá Chơn.
Tổ Chức
Khóa Tuần Giang đầu tiên do Hải Quân huấn luyện. Sau đó, Trung Tâm Huấn Luyện Tuần Giang được thành lập tại Cát Lái.
Ba đại đội sửa chữa được đặt tại Sàig̣n, Cần Thơ và Mỹ Tho.
Theo tài liệu [7] : Cát Lái thuộc quận Thủ Đức, chỉ cách Sàig̣n 18 cây số (nếu đi qua ngă Thủ Thiêm th́ chỉ cách Sàig̣n 12 cây số, c̣n nếu đi qua xa lộ Biên Ḥa khoảng 5 cây số th́ có lối đi vào Cát Lái).
Cát Lái có một căn cứ Hải Quân quan trọng được xây cất từ thời Pháp và sau này th́ có thêm căn cứ của Hải Quân Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ đă xây giúp nhiều cơ sở cho Hải Quân như Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn Người Nhái, nhiều cơ sở chỉ huy của nhiều Giang Đoàn và một bệnh xá Hải Quân Cát Lái rất khang trang. Tại Cát Lái c̣n nhiều đơn vị khác như Trung Tâm Huấn Luyện Tuần Giang, một Trung Đội Pháo Binh, một Đại Đội Quân Vận và bên kia bờ sông là Kho Đạn Nhơn Trạch, và do đó quân số phục vụ tại đây có khi lên tới khoảng 2.000 người v́ Đặc Khu Cát Lái là một vị trí chiến lược quan trọng của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.
Quản Trị
Về hành chánh: Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn Tuần Giang trực thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân về quản trị nhân viên, thuyên chuyển, bổ nhậm, tiếp liệu, sửa chữa, v.v…
Về hành quân: Đại Đội Tuần Giang đặt dưới sự điều động và xử dụng của Tiểu Khu.
Thành Phần
Liên Đoàn Tuần Giang gồm 24 Đại Đội, kể từ Đại Đội 11 Tuần Giang đến Đại Đội 34 Tuần Giang.Mỗi Đại Đội Tuần Giang được một Thiếu Tá hoặc Đại Úy chỉ huy.
Cảnh và Giang Cảnh Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.
Trang Bị
Chiến đĩnh Tuần Giang gồm có các loại: Quân Vận Đĩnh LCM và Tiểu Vận Đĩnh LCVP.
Đại Đội Tuần Giang được trang bị 1 Quân Vận Đĩnh LCM8 và Tiểu Vận Đĩnh 8 hoặc 9 LCVP.
Mỗi giang đỉnh được trang bị đại liên 50, đại liên 30 và M72.
Nhiệm Vụ
Mỗi Tiểu Khu được tăng phái một hoặc hai Đại Đội Tuần Giang để thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
· Chuyên chở Bộ Binh và phối hợp với những đơn vị bạn tham dự các cuộc hành quân do Tiểu Khu tổ chức.
· Kiểm soát ghe thuyền để khám phá và ngăn chận sự xâm nhập của địch.
· Tuần tiễu và giữ an ninh cầu cống trên những thủy tŕnh do Tiểu Khu chỉ định.
· Bảo vệ an ninh ấp, xă, yểm trợ hỏa lực và tiếp viện đồn bót ven sông.
· Hộ tống xà lan đạn, dầu, thực phẩm, v.v…
Chỉ Huy Trưởng cuối cùng: Đại Tá Kỹ Thuật Nguyễn Văn Kinh.
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. https://daihocsuphamsaigon.org/index.php/bien-kh-o/34-diepmylinh/1466-haiquanrakhoi?start=4 Chương III tiếp theo (a) Vùng Sông Ng̣i Hành Quân Lưu Động Sông - Liên Đoàn Tuần Giang -Trích từ Hải-Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975 của Điệp-Mỹ-Linh.
3. https://daihocsuphamsaigon.org/index.php/bien-kh-o/34-diepmylinh/1466-haiquanrakhoi?start=1 - Chương 1-Sơ Lược Lịch Sử Hải Quân VNCH .
4. https://bienxua.wordpress.com/2016/07/09/luoc-su-hqvnch-he-thong-to-chuc-tong-quat-hai-quan-viet-nam-cong-hoa/ Lược sử HQVNCH: Hệ thống Tổ Chức Tổng Quát Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa - Vũ Hữu San - Liên-Đoàn Tuần-Giang - Posted by bienxua on July 9, 2016 .
5. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_Ch%C6%A1n Trần Văn Chơn .
6. https://hon-viet.co.uk/PhanLacTiep_ViecDungTuongThanhToHaiQuanVNCH.htm Phan Lạc Tiếp-Việc Dựng tượng Thánh Tổ Hải Quân VNCH .
7. https://petruskyaus.net/ky-niem-phuc-vu-quan-y-hai-quan-quan-luc-vnch-tran-van-nam/ Kỷ Niệm Phục Vụ Quân Y Hải Quân Quân Lực VNCH -Trần Văn Nam -(Trích: Trần Văn Nam 80 năm cuộc đời) .
10- Trường Chỉ Huy và Tham Mưu ( Trường Đại Học Quân Sự )- Hà Nội-Gia Định-Đà Lạt- Long B́nh,Tỉnh Biên Ḥa
Theo tài liệu [1] : Trường Chỉ Huy và Tham Mưu thành lập năm 1964 tại Long B́nh,tỉnh Biên Ḥa. Trường trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn, có nhiệm vụ đào tạo và bổ túc nghiệp vụ về phương diện Chỉ Huy và Tham Mưu cho các sĩ quan các cấp.
Huy hiệu Trường Chỉ Huy và Tham Mưu – H́nh trích từ tài liệu [1] & [2] & [3]
Khẩu hiệu : Chỉnh Binh Thao Lược
Tuy nhiên theo tài liệu [2] & [3] : Trường Chỉ Huy và Tham Mưu thưở ban đầu đă được h́nh thành vào năm 1952 ở Hà Nội.Sau năm 1954, Trường di cư về tỉnh Gia Định . Đến năm 1955 , Trường được cải danh thành Trường Đại học Quân Sự . Năm 1960, Trường di chuyển về Đà Lạt và đổi thành Trường Chỉ Huy và Tham Mưu.Và đến cuối năm 1971, Trường được di chuyển về Long B́nh,tỉnh Biên Ḥa .
Sau đây là sơ lược thành lập Trường Chỉ Huy và Tham Mưu trích từ tài liệu [2] & [3] :
Trường Chỉ Huy và Tham Mưu được h́nh thành từ thời Quân Đội Quốc Gia. Thời kỳ này mặc dù Quốc Gia Việt Nam đă hiện diện dưới sự lănh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại, tuy nhiên mọi hoạt động quân sự, cũng như việc đào tạo trong quân đội thời gian đầu vẫn phải lệ thuộc vào sự cố vấn và chỉ đạo cũng như trực tiếp huấn luyện của Pháp dựa trên những cơ sở có sẵn của Quân đội Liên hiệp Pháp để lại. Trường chuyên đào tạo các sĩ quan cấp uư lúc bấy giờ trở thành một cán bộ ṇng cốt trong lĩnh vực Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp .
Lược sử :
Trường Chỉ Huy và Tham Mưu được thành lập vào tháng 6 năm 1952 với danh xưng ban đầu là Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Yhuật Hà Nội (Centre de Formation Tactique de Ha Noi). Sau Hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, trường được di chuyển vào Gia Định toạ lạc tại đường Vơ Tánh,quận Tân B́nh,tỉnh Gia Định .
Sau khi Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đắc cử Tổng Thống của Chính thể Đệ Nhất Cộng Ḥa,ngày 1 tháng 12 năm 1955 trường được cải danh thành Trường Đại Học Quân Sự. Đến năm 1960, trường Đại Học Quân Sự di chuyển cơ sở lên Đà Lạt và đổi thành Trường Chỉ Huy và Tham Mưu.
Những
năm đầu khi Trường c̣n ở Gia Định
đặc trách huấn luyện khoá chỉ huy tham mưu
trung cấp, sau đổi lại bộ binh cao cấp,
chương tŕnh này chuyển qua Trường Bộ Binh
để huấn luyện. Về sau Trường có nhiệm
vụ huấn luyện các khoá chỉ huy tham mưu cao cấp.
Cho đến cuối năm 1971 ,Trường được
di chuyển từ Đà Lạt về Long B́nh,tỉnh Biên
Ḥa.
Những quân nhân theo học khoá Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp
thuộc mọi Quân, Binh chủng. Vào những năm về
sau khi được cử đi học, khoá sinh phải
có cấp bậc từ Trung Tá trở lên.
Trong suốt thời gian hoạt động, Trường đă đào tạo cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa rất nhiều sĩ quan trung và cao cấp trở thành những chỉ huy giỏi và nổi tiếng.
Trường Chỉ Huy và Tham Mưu đă hoàn thành tất cả nhiệm vụ của ḿnh cho đến ngày miền Nam sụp đổ.
Chỉ Huy Trưởng qua các thời kỳ
1 Lê Văn Kim-Trường Sĩ Quan Pháo Binh Pháp-Đại Tá-1956-1959-Giải ngũ năm 1965 ở cấp Trung Tướng ;
2 Trần Văn Minh-Vơ Bị Tông Sơn Tây-Trung Tướng-1959-1960-Giải ngũ năm 1974 ở cấp Trung Tướng ;
3 Phạm Xuân Chiểu-Vơ Bị Lục Quân-Chapa, Lào Kay-Thiếu Tướng-1960-1961-Giải ngũ năm 1969 ở cấp Trung Tướng;
4 Thái Quang Hoàng-Vơ Bị Tông Sơn Tây-Trung Tướng-1961-1964-Giải ngũ năm 1965;
5 Lê Văn Nghiêm-Vơ Bị Lục Quân Pháp-Trung Tướng-2/1964-11/1964-Giải ngũ năm 1965 ;
6 Tôn Thất Xứng-Vơ Bị Huế K1-Thiếu Tướng-11/1964-6/1966-Giải ngũ năm 1967;
7 Lữ Lan-Vơ Bị Đà Lạt K3- Thiếu Tướng-6/1966-12/1966-Sau cùng là Trung Tướng Chỉ huy trưởng Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng;
8 Chung Tấn Cang-Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang K1- Thiếu Tướng-1967-1969-Cấp bậc sau cùng: Phó Đô Đốc Trung Tướng ;
9 Nguyễn Bảo Trị-Vơ Khoa Nam Định-Trung Tướng-1969-1973-Sau cùng giữ chức vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn ;
10 Phan Trọng Chinh-Vơ Bị Đà Lạt K5- Trung Tướng-1973-1975 .
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. https://linhvnch.wordpress.com/tr-dai-hoc-quan-su-vnch/ Tr.Đại Học Quân Sự VNCH .
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Ch%E1%BB%89_huy_tham_m%C6%B0u_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Trường Chỉ Huy Tham Mưu Việt Nam Cộng Ḥa .
11- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia
Quang Trung & Trung
Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ - Quận Hóc Môn-Tỉnh Gia
Định
Theo tài liệu [1] & [2] : Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (TTHLQT), tên tiếng Anh là Quang Trung National Training Center, QTNTC , tọa lạc tại địa phận Quán Tre, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định, trên một khu vực rộng lớn trải dài từ ngă tư An Sương đến ngă tư Trung Chánh .
(Chú thích : Ngă tư An Sương nằm trên địa phận phường Tân Thới Nhất. Ngă tư Trung Chánh thuộc địa phận xă Bà Điểm và xă Trung Chánh, quận Hóc Môn cách trung tâm quận Hóc Môn khoảng 4 cây số và là giao điểm giữa các quận Hóc Môn, Tân B́nh và G̣ Vấp ).
Theo tài liệu [3] : Gần ngă tư An Sương là Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ (TT3TMNG).
Theo tài liệu [4] : Cùng với Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ th́ quân trường Quang Trung trải dài từ xa lộ Đại Hàn đến ngă 4 An Sương qua đến ngă 4 Trung Chánh.
Theo tài liệu [5] : Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ chiếm trọn phạm vi rộng lớn, bao gồm địa bàn các phường Trung Mỹ Tây, Tân Chánh Hiệp, Tân Thới Hiệp, Hiệp Thành, Thới An...(Xem bản đồ dưới đây) .

Sau đây là lịch sử h́nh thành Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung
Theo tài liệu [1] :
Một Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự cho các tân binh người Việt được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1953 với danh xưng ban đầu là Trung Tâm Huấn Luyện Quán Tre . Trên danh nghĩa là quân trường của Quân Đội Quốc Gia nhưng vẫn do Quân Đội Pháp điều hành huấn luyện và chỉ huy. Đến năm 1954 mới chuyển cho Quân Đội Quốc Gia.
Ngày 1 tháng 6 năm 1955, Trung Tâm Huấn Luyện Quán Tre được đổi tên thành Trung Tâm Huấn Luyện Số 1.
Ngày 1 tháng 6 năm 1957, để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc vua Quang Trung, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ra quyết định cải danh Trung Tâm Luyện Số 1 thành Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung (TTHLQGQT) .

Kỳ hiệu- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung -H́nh trích từ tài liệu [1]
Theo tài liệu [5] : Đến đầu thập niên 1960 th́ Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung (THLQGQT) gồm có 12 trại huấn luyện như sau : Trung Tâm 3 Tuyển Mộ và Nhập Ngũ , trại Quang Trung, Mỹ Huề, Tây Sơn, Lê Lợi, Vơ Tánh, Bùi Khư Duệ, Bạch Đằng, Nguyễn Tri Phương, Châu Văn Tiếp, Trần Quốc Toản, Vương Mộng Hồng . Mỗi trại có từ 6 - 14 tiểu đoàn tân binh, ngoài ra c̣n có cả tiểu đoàn bộ binh pḥng vệ túc trực và thường xuyên được tăng cường bởi một tiểu đoàn an ninh thuộc Bộ Tổng tham mưu và một số lực lượng an ninh đặc biệt trực thuộc Ty An Ninh , tỉnh Gia Định.
Theo tài liệu [6] : Quân trường Quang Trung trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn Bộ Tổng Tham Mưu trong khi đó Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ (TT3TMN) trực thuộc Pḥng 1 (nhân sự) Bộ Tổng Tham Mưu. Nơi đây (TT3TMNG), sau khi khám sức khỏe, làm thủ tục nhập ngũ và lănh quân trang, có thể đi nhiều nơi, chứ không phải chỉ vô quân trường Quang Trung.
Theo tài liệu [1] : Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung (TTHLQGQT) là xương sống của Quân Đội Quốc Gia,chuyên đào tạo và huấn luyện tới 80% các binh sĩ t́nh nguyện và tân binh quân dịch, cung cấp cho các quân, binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Thông thường các khóa sinh được huấn luyện trong thời gian là 3 tháng.
Ngoài ra, THLQGQT c̣n đảm nhận huấn luyện giai đoạn 1 (căn bản quân sự) cho các khóa sinh Dự Bị Hạ Sĩ Quan, Sinh Viên Dự Bị Sĩ Quan để sau đó gởi đến các trường chuyên ngành như Trường Bộ Binh Thủ Đức hoặc Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế- Nha Trang, học tiếp giai đoạn 2 để trở thành hạ sĩ quan và sĩ quan. Ngoài ra THLQGQT c̣n huấn luyện các khóa học do Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn giao phó.
Có những giai đoạn Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung cùng với Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Lam Sơn đảm nhận luôn việc đào tạo Hạ Sĩ Quan : Quang Trung trách nhiệm Quân khu 3 và 4, Lam Sơn trách nhiệm Quân khu 1 và 2, thời gian khóa sinh thụ huấn là 6 tháng) .
Hơn nửa ,theo tài liệu [7] & [8] :
Trong kế hoạch hiện đại hóa Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, TTHLQGQT trực thuộc quyền điều động của Tổng Cục Quân Huấn,Bộ Tổng Tham Mưu, cùng với các Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia khác trên 4 Vùng Chiến Thuật :
1. Vùng 1 Chiến Thuật : TTHLQG Đống Đa ở Huế và TTHLQG Ḥa Cầm;
2. Vùng 2 Chiến Thuật :TTHLQG Lam Sơn ở Dục Mỹ, Ninh Ḥa, Khánh Ḥa (Nha Trang) và TTHLQG Phù Cát và TTHLQG Pleiku (Trường Sơn) ;
3. Vùng 3 Chiến Thuật : TTHLQG Quang Trung và TTHLQG Vạn Kiếp ;
4. Vùng 4 Chiến Thuật: TTHLQG Chi Lăng ở tỉnh lỵ Châu Đốc (gần núi Thất Sơn, nên c̣n gọi là TTHL Thất Sơn) và TTHLQG /Cao Lănh .
Như đă ghi ở trên , THLQGQT rất là rộng lớn bao gồm nhiều doanh trại lại không có họa đồ hay h́nh ảnh , TM xin chép lại dưới đây tài liệu [3] và qua đó, người ta có thể mường tượng được vị trí của các cơ sở dân sự và quân sự nằm trong chu vi của TTHLQGQT :
Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (TTHLQT) chiếm khoảng một chục mẫu (?) gồm nhiều trại (facility) .Cổng chính nằm ngay ngă tư Quán Tre ,ngược về G̣ Vấp huớng Nam là đường Quang Trung Xa lộ Đại Hàn ra ngă tư An Xương Quóc lộ 1 đi Tây Ninh.Xa cảng miền Tây ngược về nối giáp với xa lộ Biên Ḥa hướng đông .
Đường đi vô TTHLQT hai bên là doanh trại, sẽ kể tên chi tiết sau. Hướng bắc gặp ngă ba Trung Mỹ Tây là cổng phụ lên Hóc Môn, đường hướng tây qua hội đồng xă Trung Mỹ Tây, khoảng giữa là xứ Trung Chánh, cuối đường là ngă tư Trung Chánh ngược lên Hóc Môn là quốc lộ 1 đi Tây Ninh có trạm kiểm soát Hồng Châu gần Thành Ông Năm . TTHLQT có một chu ví h́nh tứ giác, chữ nhật.
Đa số các xă mang ba tên như : Xuân Thới Sơn, Xuân Thới Thượng ( Bà Điểm có nem gói bằng lá vông vang chua chua ăn luôn đưa cay hết xẩy ! Dân bợm nhậu phát mê ) chỉ có ít xă mang hai tên như Tân Hiệp, Nhị B́nh .
Không xa vô phía trong là trai gia binh. Bên phải là mấy nhà xây kiểu Pháp là tư dinh Chỉ huy Trường,kế đến là trại Vỏ Tánh .
Bên trái , bên kia đường có một chateau d’eau (Tháp nước) lớn, cao cung cấp nước phía trên có c̣i sirène báo động kế trại gia binh. Kế đến là cổng lớn trại Bùi Như Luông có bục có mái che có lính mang gệt tráng .Khi có sĩ quan đi xe gắn máy Honda chạy vô là bồng súng Garant nặng chào mệt nghĩ ! Trên tường có vẽ khẩu hiệu to : L̉ RÈN CÁN CHĨNH QUÂN và kế là : Quân trường đổ mồ hôi chiến trường bớt đổ máu .
Xa chút vô trung tâm bên trái là cổng cũng khà to là Bộ Chỉ Huy .
Bên phài bên trong là sân cờ vận động trường lớn có một khán đài gỗ có mái che nhỏ. Trong ngày lễ lớn có một đội quân gồm 6 hay 8,10 hàng . Họ mặc bộ đồ vàng có mang gệt tráng , súng garant sơn trắng ( không gắn lưởi lê-baïonnette ) v́ múa súng biểu diển bung ra nhiều hương rồi nhập lại hàng theo đội h́nh như cũ tiếp tục nhịp nhàng theo tiếng kèn trống vào giờ ngừng giải lao giữa hai hiệp Họ biểu diễn nhiều kiểu đội h́nh rất ngoạn mục .
Ban quân nhạc th́ mặc quân phục complet (đồng phục) trắng ngồi trước khán đài danh dự . Mỗi khi bên nào ghi thắng bàn th́ ban nhạc trổi lên một đoạn chúc mừng . Vậy mới xứng danh quân trường lớn nhất nước .
TTHLQT là nơi đào tạo huấn luyện không những tân binh (enlisted man) mà c̣n cả sĩ quan giai doạn 1 quân sự cho Hải Quân , Trường Bộ Binh Thủ Đức , Hạ sĩ quan đặc biệt ứng chiến mặt xa lộ Đại Hàn này (?) .
Trở lại đối diện với bộ chỉ huy là khu nghĩa địa rộng thưa thớt .
Qua sân banh có rào phân chia là đây : Vườn Tao Ngộ ( Vườn Cộng Ḥa ) khu đất rộng gấp sáu lần diện tích sân banh ,có những gian nhà bán tạp hóa ; Phía trong giữa khu là rạp hát to với sân khấu rộng ,c̣n giữa sân trong cổng là sân khấu h́nh như tháp Eiffel (Paris-Pháp) lưng chừng cho khán giả ngồi tứ phía xung quanh dự khán đều thấy rơ . Nơi đây vào tối cuối tuần có tổ chức văn nghệ cho bà con thân nhân lính thụ huấn tại đây .
V́ thân nhân từ tứ phương miền Trung , miền Tây lặn lội đến thăm nên phải đến vào ngày hôm trước. V́ thế họ dựng nhũng dăy nhà tiếp tân cho thân nhân từ xa tá túc qua đêm phía đường nhỏ chạy qua trại Lê Lợi lại nằm phía đường quốc lộ 1 đi Tây Ninh.
Cùng phía xa xa hướng gần ngă tư An Sương là Trung Tâm 3 Tuyển Mộ và Nhập Ngũ. Vào ngày lính được xuất trại ra Vườn Tao Ngộ .Ai muốn coi văn nghệ th́ coi nhắn tin trên loud speaker (loa phát thanh) thoải mái . Thân nhân tụm năm tụm ba tha hồ mở ḷng tâm sự cho bơ nhớ thương những ngày xa cách. (Xem thêm chi tiết trong Phụ đề 1 ) .
Qua Vườn Tao Ngộ không xa sau này có xây nền hơi cao đặt tượng Vua Quang Trung ngồi lộ thiên . Đối diện là nhà thờ Công giáo xây kiểu xưa . Kế bên có hàng rào là trường trung học Lư Thường Kiệt tiên khởi cấp hai có 8 lớp sau này mở thêm cấp ba trên quận gần sân banh gần chợ Hóc Môn Sau này mở thêm trường Văn Hóa Quân Đội cho con em quân nhân cơ hữu bên kia nhà thờ . Đối diện là Quân vụ thị trấn Quang Trung.
Dài dài về phía cuối là trại Nguyễn tri Phương Đối diện bên này là trại Châu Văn Tiếp cũng to dài kéo dài tới ngả ba Trung Mỹ Tây . Gần góc có đường ṃn đi tắt qua Trung Mỹ Tây quẹo trái đường khá dài Bên kia là nhà thờ xứ Trung Chánh .
Nói đến TTHLQT mà không kể về Băi Bà Đầm là điều thiếu sót ! Bải Bà Đầm hồi xưa tập nhảy dù ngày cả đêm nữa.
Gần cuối bên trái có trại gia binh lớn đối diện mặt tiền dăy phố chợ có lớp dạy Anh Văn của một ông Sau này trúng cử dân biểu : N. V. U .
(Phụ chú : Theo tài liệu [9] : Trong khu vực Quán Tre có một Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre kế cận TTHLQT. Trung Tâm này là nơi đặt những máy phát thanh chính yếu của hệ thống truyền thanh quốc gia,bao gồm các máy có công suất cao 100,50 và 10 kilowatts. Một trong những máy này dùng cho chương tŕnh phát thanh của Quân Đội .
Theo tài liệu [3] : Trung Tướng Mai Hữu Xuân tham gia đảo chánh 1-11-1963 đă đem quân chiếm Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre này xéo gần bên kia đường xa lộ Đại Hàn).
Sau đây là hồi kư hành tŕnh nhập ngũ khởi đầu từ Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ dẫn đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ,viết bởi ba cựu khóa sinh, niên khóa 1968, 1970 và 1972 trích từ tài liệu [10], [14] & [16] .
1- Hồi kư thứ nhứt trích từ tài liệu [10] :
Ngày 16 tháng 5, vào khoảng 11 giờ, cô em gái chở tôi lên Phòng Quân Vụ Tiểu Khu Gia Định trình diện nhập ngũ khóa 3/68. Sau những thủ tục thường lệ của phòng Quân Vụ, tôi được mời ăn bữa cơm trưa dã chiến đầu tiên trong đời quân ngũ cùng với những anh em khác.
Sau đó, chiếc GMC chở chúng tôi trực chỉ và bàn giao chúng tôi cho Quân Vụ Thị Trấn trên đường Lê Văn Duyệt lúc 2 giờ chiều.
(Phụ chú : Quân Vụ Thị Trấn Sàig̣n trực thuộc Biệt Khu Thủ Đô. Biệt Khu được đặt tại trại Lê Văn Duyệt nằm trên đại lộ Lê Văn Duyệt trong phường Chí Ḥa thuộc quận 10. Xem thêm chi tiết trong bài Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 - 104-Phụ trang : Danh sách bổ túc các trường trung học -Trường Tinh Thần của cùng tác giả).

Thiệp chúc Tết Xuân Kỹ Dậu 1969 của Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô- H́nh trích từ tài liệu [11]

Cổng trại Lê Văn Duyệt - Ảnh manhhai
Từ đây, hai chiếc GMC đã đưa tất cả chúng tôi và các anh từ các phòng quân vụ khác tiến tới Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ (TT3TMNG) . Thay vì chạy theo hướng Lăng Cha Cả, hai chiếc GMC đã chạy theo đường Võ Di Nguy nối dài, gặp ngã năm Gò Vấp. Đây là giao điểm của năm trục lộ : Võ Di Nguy Phú Nhuận nối dài gặp đường Quang Trung, đường Phạm Ngũ Lão nơi có Cục Địa Chính, đường Gia Long Gò Vấp, và đường Cổ Loa với các doanh trại Thiết Giáp, Pháo Binh chạy tới các xứ đạo Xóm Mới.
Trước khi quẹo trái vào đầu đường Quang Trung, ngay góc đường Võ Di Nguy nối dài và đường Quang Trung có Trại Quân Khuyển, và tiếp nối là cơ xưởng cắt may quân nhu, khu dân cư và xứ đạo Xóm Thuốc....
Bên phải đầu đường Quang Trung có các trường Hành Chánh Tài Chánh, các đơn vị sửa chữa Truyền Tin, Sở Nông Mục của cục Quân Nhu, xứ đạo Hạnh Thông Tây... Và từ con đường Quang Trung nắng đổ này, hai chiếc GMC đưa chúng tôi tới TT3TMNG lúc gần 3 giở chiều.
Sau thủ tục bàn giao, bên cạnh những cán bộ của trung tâm, ông Thượng Sĩ già, cán bộ TT3TMNG,hướng dẫn chúng tôi xếp hàng điểm danh: “ bốn hàng dọc, mỗi hàng cách nhau ba bước, cao đứng trước, anh đứng đầu làm chuẩn, thấp đứng sau ,trước thẳng. So hàng,người này đặt tay phải lên vai người kia, thôi, nghiêm, nghỉ, tan hàng, cố gắng".
Từ đời sống dân sự chuyển qua đời sống nhà binh, nên chúng tôi chưa quen với các động tác thao diễn nghiêm nghỉ, lạ lẫm như người từ quê lên tỉnh, khiến ông Thượng Sĩ già phải hướng dẫn và lặp đi lặp lại nhiều lần các động tác căn bản khi tập họp. Có lẽ, với tuổi đời trong lãnh vực quân huấn lâu năm, nên ông kiên nhẫn, nhắc nhở chúng tôi và tỏ vẻ thông cảm với những người trai trẻ đến đây từ bốn phương tám hướng, ngày đầu tiên xa nhà,những tân khóa sinh sống trong doanh trại quân đội mà tâm tư đang vấn vương nhớ thương người thân, người yêu nơi quê nhà.
Sau khi điểm danh, làm thủ tục, căn dặn đôi điều qui định, chúng tôi lần lượt được lãnh quân trang. Nhìn nhau lụng thụng trong cái áo, cái quần không đúng tấc thuớc, không đúng khổ dạng mỗi người, nhìn nhau thấy tức cười. Mấy anh cán bộ TT3TMNG nói: “Không sao, anh nào muốn đổi hay muốn sửa thì mai mốt tính, chuyện nhỏ. Bây giờ về phòng nghỉ rồi khi nghe tiếng kẻng thì đem theo cà mèn xuống nhà bàn ăn chiều”.

Tân binh lănh quân trang-Năm không xác định- H́nh trích từ tài liệu [12]
Tất cả tân khoá sinh lại được tập họp, xếp hàng và theo cán bộ hướng dẫn đi về các dãy phòng ngủ với những chiếc giường tầng. Thân thể rã rời, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay. Khi anh bạn nằm giường kế cận đánh thức tôi dậy, chúng tôi nối đuôi nhau, tay cầm cái cà mèn đi dọc hành lang xuống nhà bàn. Ngày đầu tiên, nhìn những con cá mối trên các khay, nhìn những xô canh bí lỏng bỏng nước, tôi hơi ngần ngại, lưỡng lự cầm cái muôi xúc chút ít cơm, gắp con cá mối
Tiếng còi như tiếng dế kêu tập họp mỗi buổi sáng, sau khi tập thể dục và ăn sáng với khúc bánh mì, chúng tôi lần lượt được các vị quân y khám tổng quát mắt, mũi, miệng, tim phổi qua y cụ. Điểm độc đáo làm bọn lính mới tò te chúng tôi ngạc nhiên, khi nghe ông y sĩ bảo kéo quần xuống và tay ông nâng nhẹ hai hòn bi lên, rồi ông nói tốt , tôi ngạc nhiên hỏi, và ông mỉm cười nói: “Xem anh có đúng là nam nhi chi chí để nhập ngũ hay không”.

Tân binh chờ khám bịnh ? – Năm không xác định -H́nh trích từ tài liệu [6]

Bác sĩ quân y khám tổng quát tân binh-Năm không xác định- H́nh trích từ tài liệu [12]
Vừa
qua khỏi tay ông quân y là các ông thợ húi
cua nói ngồi xuống. Bàn tay của những
anh lính thợ hớt tóc không phải
là những bàn tay năm ngón kiêu sa, tay anh
lính thợ đẩy chiếc tông đơ như
đẩy chiếc bàn ủi, càng nhanh, càng
sát, càng tốt. Chỉ vài ba phút sau,
bọn tân khóa sinh chúng tôi nhìn nhau như
tiếc nuối mái tóc thư sinh ngày nào,
và thấy mặt mũi bạn mình không
giống ai, mỗi người mỗi khác, trông
không giống một con giáp nào.
Khi chưa nhập ngũ, tôi thường đi
tắm mỗi khi trời oi bức. Nhưng
từ ngày vào TT3TMNG, để tâm trí khuây
khỏa, bọn chúng tôi thường chơi
thẩy móng ngựa, nên mồ hôi cũng như
bụi đất làm cả bọn phải đi
tắm sau cuộc chơi. Bốn bể
nước hình chữ nhật lớn
được xây sát cạnh nhau trên một
nền ciment cao, được bao quanh bởi
những tấm tôn che ngang ngực. Ngày
đầu tiên, mấy đứa lính mới to
te chúng tôi vừa bỡ ngỡ, vừa
ngại ngùng mắc cỡ, khi bước
vào khu vực tắm công cộng thấy
mọi người đều tồng ngồng,
cười cười, nói nói, kỵ
cọ như cùng ca múa vũ khúc không màn
che trên sân khấu lộ thiên .
Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (TTHLQT) là trung tâm huấn luyện tân binh lớn nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng để đáp ứng chiến thuật chiến lược và hiện đại hóa quân lực, từ khóa 1/68 các dự bị sinh viên sĩ quan trừ bị đã được huấn luyện giai đoạn 1 tại đây . Đây là giai đoạn sống và sinh hoạt huấn luyện như một người tân binh.
Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung rộng hàng trăm mẫu tây, lớn nhất vùng Đông Nam Á, với những địa danh quen thuộc như Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre, Vườn Tao Ngộ, ngã tư An Sương,Thành Ông Năm, Khu Thoát Hiểm Mưu Sinh, Đoạn Đường Chiến Binh, các Bãi Tập Tác Xạ và Bãi Bà Đầm với những phi cơ vận tải bay lượn thả những anh chiến sĩ nhảy dù tập luyện ngày đêm.
Ngoài các doanh trại dành cho các tiểu đoàn tân binh quân dịch và trại Võ Tánh dành cho các tân khóa sinh chúng tôi, còn có doanh trại Vương Mộng Hồng của sư đoàn Nhảy dù.Nơi đây, các tân binh tình nguyện của binh chủng Nhảy dù được huấn luyện căn bản tác chiến.
Trong vòng đai TTHLQT cũng có những trại gia binh, nơi cư trú của những gia đình cán bộ đang phục vụ tại Trung Tâm, cũng như các xứ đạo Công Giáo di cư trốn lánh Cộng sản từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954, tiêu biểu là xứ Trung Chánh với những sinh hoạt đức tin sống động, nhiệt thành của các giáo dân, chợ búa và các cửa tiệm tạp hóa với đầy đủ các loại mặt hàng gia dụng.
Tiếng còi lại vang lên như tiếng dế kêu mỗi buổi sáng, sau khi chúng tôi vừa ăn sáng ngày cuối tuần. Tập họp, điểm danh xong, các cán bộ ra lệnh thu xếp quân trang để di chuyển qua trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương.
Ba lô đeo trên hai vai, cộng với cái túi quân trang dài vác trên vai, chúng tôi đi bộ từ TT3TMNG qua trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương theo sự hướng dẫn của các cán bộ dưới ánh nắng gay gắt tháng sáu của buổi sáng, nhễ nhại mồ hôi trán, thấm ướt áo mồ hôi lưng, vai ê ẩm, chân mỏi rã rời, làm chúng tôi mệt nhoài. Khi chân bước tới cổng trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương thì mặt trời đã lên gần đỉnh đầu.
Khẩu khí của những ông Hạ Sĩ Quan cán bộ trại Nguyễn Tri Phương khi tập họp điểm danh khác hẳn thời gian ngắn ngủi sống bên TT3TMNG. Những làn da đen sạm, khắc khổ của cán bộ và những răn đe hít đất, nhảy xổm, quay nón sắt đã được nói lớn tiếng một cách lạnh lùng, khi một hai con nhạn là đà, lè phè chậm chạp, không ngay hàng thẳng lối trong hàng quân. Và việc phải đến đã đến, vài ba chục cái hít đất, năm bảy chục cái nhảy xổm đã làm cho bọn tân khóa sinh chúng tôi thấy ớn lạnh trong tuần lễ đầu tiên. Nhưng sau một tuần quen hơi quen sức, chúng trở thành những động tác tập thể dục, thi hành phạt mà miệng cười tươi, làm quê cơ các hạ sĩ quan cán bộ khó tính. Tuy nhiên, một hình phạt gây cho nhiều anh yếu tim xanh máu mặt, lảo đảo, té ra giữa sân, và khiến cho cán bộ trại cũng e ngại ít áp dụng. Đó là trò quay nón sắt mà các tân binh thường gọi là ‘’tṛ quay dê mèn’’.
Như để các tân binh hay tân khóa sinh làm quen với các sinh họat đời lính, nhận bổ túc quân trang, chích ngừa, uống thuốc. Nên kỷ luật và sinh hoạt trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương cũng không qúa gắt gao, gò bó.
Nhiều anh
trói gà không chặt trong đời sống
thư sinh, nhưng sau khi vào trại chuyển tiếp Nguyễn
Tri Phương với những mũi thuốc
TAB làm da người bắt nắng, đen
sạm, ăn ngủ khò khò, uống
nước phông ten, ăn cơm nhà bàn mà
không thấy bịnh tật chi cả, chỉ thấy
đôi khi gảy đờn sột soạt trong đêm
vì ăn cá mối mà thôi. Các cán bộ
thường nói: “Chích TAB thì bắt
nắng, nhà binh mà, sợ gì đen
với đỏ, nhưng tránh được
sốt rét ngã nước, trong nước
uống cũng như cơm nhà bàn đều
có thuốc khử trùng và vitamin. Không
có cá mối không phải là Quang Trung, gảy
đàn cho đã ngứa, không chết đâu
mà sợ “.
Tuần lễ đầu tại trại chuyển tiếp
Nguyễn Tri Phương, các cán bộ không
bắt buộc tất cả các tân khóa sinh
phải ra khu tiếp tân trong khuôn viên trại vào
sáng thứ bảy, ai biết mình có
người nhà đến thăm thì ra,
còn không thì tùy ý. Để gia đình
đỡ vất vả, lo lắng, tôi đã
dặn mẹ tôi và các em không cần đi
thăm hay tiếp tế gì cả, nên tôi ung dung ngủ
nghỉ thoải mái. Nhưng đến tuần kế
tiếp, các cán bộ bắt mọi
người phải ra khu thăm tiếp tân cho thư
thái tinh thần, dù có thân nhân đến
thăm hay không. Nên tôi đi tới đi lui khu tiếp
tân nhìn bà con thiên hạ như anh chàng mồ
côi, bị vợ bỏ, người yêu chê.
Còn khu Vườn Tao Ngộ còn gọi là Vườn Cộng Hòa, là khu vực dành riêng để đón tiếp thân nhân các anh em tân binh quân dịch vào mỗi cuối tuần, với những chương trình văn nghệ sống động.(Xem thêm chi tiết về Vườn Tao Ngộ trong Phụ đề 1)
Vài tuần lễ ở trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương qua mau với những lần lãnh quân trang bổ túc, chích và uống thuốc, tập thể dục buổi sáng. Tiếng dế kêu bất thường liên tục hai ba hồi dài buổi sáng, các cán bộ thông báo tập họp và di chuyển với tất cả quân trang cá nhân. Một lần nữa, chúng tôi được lệnh đi theo các cán bộ hướng dẫn, di hành dọc theo đường lộ từ trại Nguyễn Tri Phương qua trại Võ Tánh
Từ trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương qua trại Võ Tánh cũng không xa, và chúng tôi cũng đã phần nào quen hơi với cá mối nhà bàn. Nên khi đến trại Võ Tánh và tập trung ở sân cờ liên đoàn, ai nấy cũng đã nghiêm nghỉ và so hàng tương đối gần đúng quân cách. Liên đoàn gồm hai tiểu đoàn Nguyễn Huệ và Đinh Tiên Hoàng. Tôi được gọi tên về đại đội 36, thuộc tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, và sau đó, cùng đội đi theo các sĩ quan cán bộ về đại đội.
Trên đường từ sân cờ liên đoàn về đại đội, dọc hai bên đường đi của trại là các hàng cây bã đậu với thân cây tua tủa đầy gai, và những đường mương rộng đã được chà láng nhẵn như mặt xi măng, mà một tuần sau ngày về đại đội, chúng tôi mới biết đó là một hai món “ăn chơi“ dành cho các khóa sinh : Chà láng bằng cà mèn mỗi buổi sáng như một hình thức thể dục trong huấn nhục, và chống tay hít cây bã đậu khi bị cán bộ phạt dã chiến. Ít lâu sau, hình phạt chống tay hít bã đậu đã bị cấm áp dụng khi Liên đoàn nhận thấy gây nguy hiểm cho sức khoẻ và tinh thần của các khóa sinh. Vì sau khi chống tay hít cây bã đậu, lòng bàn tay người khóa sinh đã bị rướm máu.
Khác với các quân trường huấn luyện sĩ quan, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung không có chế độ huynh trưởng, niên trưởng, khóa đàn anh, đàn em. Nên chỉ có những hình phạt từ các cán bộ đối với kḥa sinh hay tân binh mà thôi.
Vào thập niên sáu tám, sau Tổng công kich tết Mậu Thân, an ninh sân bắn đã được tăng cường và những buổi huấn luyện trong đêm tối giảm bớt. Nhiều lớp huấn luyện đêm tối được tổ chức trong vòng đai TTHLQT . Các tân khóa sinh chúng tôi không phải tham gia phòng thủ vòng đai như khi thụ huấn ở trường Bộ Binh Thủ Đức sau này.
Từ
ngày có các tân khoá sinh thụ huấn,
với tài năng văn nghệ của nhiều
khóa sinh, các Văn Khang đã
được hình thành ở hai tiểu
đoàn khóa sinh Đinh Tiên Hoàng và
Nguyễn Huệ, với cảnh trí thiết
kế thật mỹ thuật như các phòng trà
ca nhạc, cùng với tiếng đàn,
tiếng sáo, tiếng kèn, hòa với
lời ca những bản tình ca lính
chiến của các tân khóa sinh.
Thời gian qua mau khi ngày ngày thao
trường đổ mồ hôi, tối về sinh
hoạt rồi chìm vào giấc ngủ say.
Đời sống quân trường đã
thấm nhập vào mỗi người, quen
thuộc với nắng gió, gian lao.
Sau tuần lễ thi tác xạ trên thềm bắn, Đại úy đại đội trưởng Nguyễn Hổ đã nói chuyện bên lề với anh em trước khi tập họp đội để lên sân cờ liên đoàn nghe Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm nói chuyện.Ông mừng cho anh em khi biết tin trong đại đội không có ai rớt tác xạ
Lúc đó, chúng tôi mới được thông báo là các anh em rớt tác xạ hay hạnh kiểm, sẽ tham dự khóa huấn luyện dành cho hạ sĩ quan và sau khi ra đơn vị được hai năm sẽ trở lại tham dự những khóa huấn luyện Sĩ quan Đặc biệt. Có lẽ Trung Tâm Huấn luyện Quang Trung chỉ là nơi huấn luyện giai đoàn một của chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị, nên không có những nghi lễ long trọng như các trường sĩ quan dành cho ngày ra trường. Ngày hôm sau, chúng tôi được các xe GMC chở đến trường Bộ Binh Thủ Đức. Trên đường chuyển trại, anh em vẫn còn bàn tán, cảm thấy buồn khi nghĩ đến những anh em đã rơi rụng trong khóa.
Từ con đường Quang Trung nắng đổ dẫn đến các doanh trại của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và từ các doanh trại đã có biết bao nhiêu những người trai nước Việt hy sinh hạnh phúc cá nhân, ngày đêm đổ mồ hôi trên thao trường, trau dồi và học hỏi chiến thuật chiến lược, để từ đây bước đi khắp bốn vùng chiến thuật, ngày đêm bảo vệ tự do hạnh phúc cho đồng bào, rồi đành thúc thủ trước các thế lực siêu cường trao đổi quyền lợi với nhau.
Sau ngày nước mất nhà tan, lao động khổ sai trong các trại tù khắp ba miền đất nước – trong các trại tù trên núi rừng biên giới, biết bao nhiêu anh em đã bỏ mình trong các trại tù, trong đó có những bạn đồng tù với tôi, những anh em một thời đã đi qua con đường Quang Trung nắng đổ trước khi trở thành người Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
2- Hồi kư thứ hai trích từ tài liệu [14] :
Tôi đến đây Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (TTHLQT) và Trung Tâm 3 Tuyển Mộ và Nhập Ngũ (TT3TMNG), vào buổi trưa, một ngày trung tuần tháng 12 năm 1970 để làm Tân Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan Khóa 6/70 Sĩ Quan Trừ Bị Trường Bộ Binh Thủ Đức. Thinh không iêng ả. Bốn bề cây bả đậu gai góc, âm u.
Bước vào Trại Nguyễn Tri Phương là “đoạn trường chiến binh”. Đời dân sự thong dong nghêu ngao tháng ngày xin để lại bên ngoài mà bước một bước vào trong là bước nhịp quân hành đời lính KBC 4091 “quân lệnh như sơn”.
Cởi cái áo Montagu đỏ màu rượu Bordeaux đỏ xậm và cái quần Jean Levi’s cao bồi màu xám mà thay vào bộ treillis màu xanh ve olive thụng thịnh. Từng đứa nh́n nhau vừa cười méo miệng vừa rơm rớm nước mắt, cái đầu húi trọc để ra những cái thẹo vô duyên ch́nh ́nh. Đầu thầy tu mà đội “nón hai lớp”, trong nhựa, ngoài sắt vừa đau vừa nặng.
Tháo ra đôi giày “lấy le” da đen Thụy Sĩ bóng loáng, mang vào hai chiếc giày bố nhà binh, lănh làm sao mà hai chưn hai số, mất công chạy tới chạy lui đổi. Cất dây nịt da đắc tiền vợ mới mua tháng trước, lănh dây centuron to tổ bố và dây ba chạc lủng lẳng kèm theo một bidon nhựa với bốn túi đạn cho đủ bộ.
Trải ra cái poncho liner nylon mới phát, bỏ hết vào đó cái ballot (ba lô) và cái sắc marin vải bố dày cộm, cái gamelle (gà mèn) với cái ca đựng nước bằng inoxydable, cái xẻng xếp bằng sắt cán gỗ, cái vơng và cái mùng nylon với cái mũ trùm chống muổi, cái mũ lưỡi trai, cặp áo thun vải màu olive với hai đôi vớ nhà binh, cái băng cá nhân với tấm thẻ bài…
Tất cả chúng tôi bắt buộc như những đứa con nít làm theo mệnh lệnh : “Sắp hàng lảnh quân trang, quân dụng”, “sắp hàng đến trạm xá uống thuốc”, “sắp hàng xuống nhà bàn”, “sắp hàng điểm danh”, “sắp hàng nghe chỉ thị”, “sắp hàng đi làm tạp dịch”… của ông Trung Sĩ già.
Trại Nguyễn Tri Phương chỉ là trung tâm chuyển tiếp. Nơi đây người ta chú trọng việc cung ứng những nhu cầu cho một người trai sắp vào đời quân ngũ. Chúng tôi c̣n thời gian vài ngày quanh quẩn tư lự, tự do ḷng ṿng trong khuôn viên doanh trại. Những chàng trai không hẹn mà gặp, không quen mà thân. Họ khác nhau từ “bốn vùng chiến thuật”, từ tuổi tác, từ tŕnh độ văn hóa, từ giai cấp, từ đơn vị…về đây kết t́nh “huynh đê chi binh”.
Trong lúc chờ qua Trại Vơ Tánh bước vào quân trường, chúng tôi thường “tà tà” quanh quẩn hay chuyện tṛ vu vơ yêu đương, bút nghiêng, lính tráng…
Đến trưa ngày 24 tháng 12, chúng tôi được lệnh “xả trại” 48 tiếng đồng hồ về ăn Noel. Vậy là, tôi không mất đêm dắt bà xă đi ḷng ṿng khu Nguyễn Huệ, Tự Do, Nhà Thờ Đức Bà…tay cầm cây kem lạnh North Pole (Pôle Nord trong Thương Xá TAX nơi công trường Lam Sơn,đại lô Lê Lợi và Nguyễn Huệ) và đêm “Ăn Réveillon” như mọi khi. Mừng húm! Chỉ mới mấy ngày thấy đă tù túng, nhớ vợ, bạn bè, phố phường… Huống ǵ !!!
Xế chiều ngày 26 tháng 12, chúng tôi theo xe Lam vào lại Trại Nguyễn Tri Phương. Người người nói cười vui vẻ.
Đâu khoảng hai ngày sau, chúng tôi khăn gói qua Trại Vơ Tánh. Ở đây mới thực sự là Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (TTHLQT). Ở đây mới thực sự là “quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”. Chúng tôi khoảng 130 người di chuyển qua các các con đường nhựa sạch sẽ, rợp bóng cây bă đậu, giữa những đường giao thông hào ngoằn nghèo láng bóng chạy ṿng vo quanh doanh trại. Được lệnh dừng lại. Chúng tôi đứng giữa con đường không tráng nhựa, trước một căn nhà. Ông Thượng Sĩ già bảo “đây là Căn Nhà Đại Đội của các anh”. Phớt qua một lượt, tôi thấy phía phải bên kia đường có tấm bảng ciment (xi măng) lớn đề Tiểu Đoàn Đinh Tiên Hoàng. Ngoái lại sau lưng, một căn nhà dài, tường gạch tableau, mái tôle ciment, bên trong đầy những giường ngủ hai từng làm bằng sắt, đen màu hắc ín. Tất cả được phân chia ra thành từng Trung Đội, Tiểu Đội, điểm danh, đếm số…
Trung Úy được giới thiệu là Đại Đội Trưởng Cán Bộ ban huấn thị, điều dụ quân trường bắt khóa sinh nhất nhất như đinh đóng cột “thi hành trước, khiếu nại sau”, không được suy suy suyễn.
Ông Thượng Sĩ chạy tới chạy lui lo hướng dẫn, tiếp liệu, quân cụ, vũ khí…Một khóa sinh Thược được đề cử làm Đại Diện, có nhiệm vụ làm trung gian giữa cán bộ và khóa sinh, chạy lăng xăng.
Trời đổ hoàng hôn, “quân trang quân dụng để tại chỗ”, lệnh của Thượng Sĩ, chúng tôi được dắt xuống “nhà bàn” ăn cơm chiều. Một khu đất rộng, một căn nhà to có nhiều dẫy bàn với hai hàng băng dài kèm theo… bên trong đang đông người ăn uống, ồn ào. Chúng tôi ngồi dài một dăy, theo carré (h́nh vuông) 4 người. . Không may hôm đó, cơm bị khét, cháy…và cá lù đù chiên hơi có mùi ương mà chúng tôi th́ mới đi phép vào. H́nh như không ai ăn uống ǵ. Có điều, nhiều người ùa nhau giành xin cho được nước nóng đổ bidon. Rồi trở lại. Rồi vào Căn Nhà Đại Đội. Rồi Trung Úy Đại Đội Trưởng chỉ “đây Trung Đôi I, đây Trung Đội II…,đây Tiểu đội I, đây Tiểu Đội II …”.
Những ngày chưa đi băi th́ “tập họp sắp hàng, đếm số”, “tập họp đi ăn”, “tập họp đi tắm”, “tập họp lảnh vũ khí”, “tập họp tập hát”, “tập họp sinh hoạt đại đội”, “tập họp làm vệ sinh, chà láng”…từ 5 giờ sáng đến 11 giờ đêm. Thả ra, ai ai cũng ngủ thẳng cẳng, ngáy thẳng giấc, quên đời dăi dầu.
Trại có các Tiểu Đoàn mang tên những vị vua hay những vị anh hùng nước Việt Nam xưa như Tiểu Đoàn Gia Long, Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ, Tiểu Đoàn Trần B́nh Trọng, Tiểu Đoàn Trần Quốc Toản và “Tiểu Đoàn Tạp Lục” chúng tôi : Tiểu Đoàn Đinh Tiên Hoàng , một Thiếu Tá ( không nhớ tên ) làm Tiểu Đoàn Trưởng.
Ăn sáng là bánh ḿ với sửa ḅ, chuối già hay đường cát trắng. Buổi trưa và chiều th́ “nhà bàn” với cơm màu vàng vàng, có người nói “có thuốc bổ trong đó” cùng với cá chiên, thường là cá đù, cá chỉ, cá trích…mà anh em quen gọi là “cá mối” với canh cải lềnh bềnh vài cục mỡ heo.
Chúng tôi tập hát cho thuộc ḷng bài “Xuất Quân” của Phạm Duy và bài “Lục Quân Việt Nam” của Văn Giảng. Di chuyển trong doanh trại luôn luôn phải hàng lối, nhịp nhàng và hát bài “Lục Quân Việt Nam” hay bài “Xuất Quân” để giữ bước và mạnh dạn. (Lời ca của hai bản nhạc này được ghi trong trong Phụ đề 2 ).
Đằng kia, một Đại Đội Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan Không Quân đang nhịp bước với bài Không Quân Hành Khúc . Đằng nọ nhiều Đại đội của các sinh viên Sài g̣n tham dự Chương Tŕnh Huấn Luyện Quân Sự Học Đường chững chạc trong đồng phục kaki vàng với mũ kalo. Xa xa vài Đại Đội Tân Binh Quân Dịch của Tiểu Đoàn Trần Quốc Toản đang bước một, hai, ba bốn…theo bài Quang Trung Hành Khúc của Thục Vũ.
Đường ra băi hay về trại, thường súng M.16 đeo vai hay cầm một tay b́nh thường, ballot (ba lô) mang lưng, dây đạn mang hông…Nhưng Tiểu Đoàn Vương Mộng Hồng là những Tân Binh Nhảy Dù, mang đủ quân trang, quân dụng nặng ch́nh chịch, luôn luôn súng bồng “thế cầm tay” xéo 45 độ, vừa chạy vừa hát mà đại đội vẫn ngay hàng thẳng lối như thường.
Mỗi sáng tinh sương, trời âm u tối mù, quân trường như bừng sáng những đèn pin, đèn bạch lạp và tiếng bay thợ hồ “chà láng” mặt giao thông hào rào rào. Một kỹ niệm đố ai mà quên ?.
Công việc ‘’chà láng” theo tài liệu [15] là như sau: Chung quanh trại toàn là giao thông hào và hố cá nhân, trời mưa xuống là ngập nước và trôi đất ở thành vách xuống đáy, bây giờ phải moi bùn lên trét vào vách rồi dùng cái gà men bằng nhôm (kiểu của Pháp ngày xưa dùng để ăn cơm, có cái quai xếp lại dùng làm tay cầm) như cái bay chà vào vách cho nó láng. Mỗi lần mưa xong lại phải chà láng lại.
Một chiều, cả Tiểu Đoàn được lùa ra chích TAB ở sân vận động. Người ta không phải dùng kim “lụi” từng người một. “Lụi” từng người một th́ “Tết Congo” mới xong. Người ta dùng máy chích h́nh thù như máy sấy ở các tiệm uốn tóc mà “bụp”, “bụp” nhanh như chớp. Ai ai cũng nghĩ, ḿnh đă được chích thuốc chịu đựng được nắng mưa và khoẻ ra. Nhưng không phải chút nào. Chích TAB là để ngừa các chứng bệnh “trối nước” như Thương Hàn và Phó Thương Hàn A và B mà thôi. TAB viết tắt từ các chữ Typhoid - Paratyphoid A – Paratyphoid B.
Buổi thực tập “Quăng Lựu Đạn” cũng ngán. “Đếm nhanh một, hai, ba…mười là quăng”, Huấn Luyện Viên bảo vậy. Cầm trái lựu đạn M26 thứ thiệt trong tay, mở khóa an toàn, lắp bắp đếm một, hai, ba, bốn…quăng. Ngồi xuống. Bùm. May không đếm cà lăm. Không có ǵ.
Cũng như hôm tập bắn M.72. Người ta chỉ “súng để trên vai, kéo ra, nhắm đỉnh đầu ruồi giữa lổ chiếu môn, bắn…mấy xác xe tăng đằng đó”. Một tiếng nổ. đạn trúng mục tiêu cháy sáng, xác xe M-113 chảy nước. Gớm thiệt !
Ngày Đoan Đường Chiến Binh, anh em cũng ngài ngại những bất cập sẽ đến với ḿnh. Một chiếc xe Hồng Thập Tự đậu sẳn đó, gây thêm nỗi e dè hơn là b́nh yên. Khoảng chừng 18 chướng ngại vật phải qua. Nhảy qua từng sà đà ngang, nhiều cả chục. Đong đu qua những thanh sắt parallel (song song) có khoảng cách không đồng đều. C̣ng lưng chun quanh co trong nhà chó kẽm gai. Leo lên bên nay, tuột xuống bên kia cái thang đứng cao 25 mét.
Đi thăng bằng trên cây đà dọc, té xuống đi lại, đi cho đến khi nào qua được. Nhảy xuống nhảy lên khoảng 5 cái “ hố ḅ” sâu tới bụng, đứt hơi. Leo lên cao cây cổ thụ, hai tay nắm thật chắc, hai chưn kẹp cho chặc ḅ dưới sợi dây với đầy đủ súng ống, quân trang quân dụng để tới đầu bên kia xa hơn 50 mét. Người ta gọi là “đi dây tử thần”. Dẫu có tránh cách mấy, cũng có một người té lọi tay.
Sau khoảng 2 tháng, chúng tôi được tăng phái về giữ an ninh ven đô vào dịp Tết năm Nhâm Tư, tháng 2 năm 1971 tại Quận 9-Sài g̣n.
Về lại TTHLQT, tiếp tục ngày đi băi, sáng chà láng, tối đi gác, rảnh tháo ráp vũ khí, chùi súng, c̣n th́ giờ, lai rai lên “Câu Lạc Bộ Ăn Dở Mắc Tiền”…
Đố ai đi băi về mà không đi tắm?. Đừng quên tắm giếng. Ở đây tắm giếng chứ không phải hồ xây. Ho trần truồng thoải mái giội nước. Có ai sợ ai nh́n?. Toàn con trai không mà. Tôi cũng chẳng dám nh́n ai và lúc nào cũng quần xà loỏng với slip cho chắc ăn. Vậy mà, đêm ḅ hỏa lực, ướt như chuột, dơ dáy, mệt đừ, có người bỏ tắm!. Nghe nói, ḅ dưới hỏa lực ở đây có phần đổ mồ hôi hơn nhiều quân trường khác. Trên ḿnh, ballot (ba lô) nặng trĩu, đùng đùng lằn đạn loè sáng ngang dọc. Dưới, hai tay kẹp súng M.16 trườn trong vũng śnh. Mắt, trong đêm tối mù, lau láu như thằng ăn trộm. “Vượt Sông” th́ không đâu “ghê” bằng Quang Trung, lội qua con sông nhỏ “đen thủi đen thui” màu bùn nước thải của các hảng x́ dầu, bột ngọt địa phương. Có nhiều anh “ma giáo” bằng cách nào thiệt là hay, không bị ướt, bị dơ. “Lưới thưa không qua mắt thánh”, các bạn bị bắt, bị “thụt dầu” 30 cái trước khi phải “nếm mùi” như người ta. “Thụt Dầu” là hai ngón tay trỏ và ngón tay cái của hai bàn tay nắm chặc hai lổ tai, ngồi xuống đứng dậy, ngồi xuống đứng dây…
Những đêm phiên gác, xa xa hỏa châu lập ḷe, đạn pháo rít giọng khô khan. Băi tha ma sát điếm canh lào xào tiếng gió, “ớn” cho tôi thằng không tin ma mà sợ ma?” Khuya 12 giờ, nghe Nhật Trường trong Đài Gươm Thiêng Ái Quốc qua cái Radio Transistor bỏ túi vặn nhỏ đủ nghe . Vườn Tao Ngộ, cái tên khen ai khéo đặt mà nghe Giao Linh hát th́ buồn thúi cả ruột.
Cuối tháng 3 năm 1971, một buổi văn nghệ cho ngày măn khóa được tổ chức.
Đời lính muôn thuở muôn nơi là gian truân và sống chết là lằn ranh may rủi. Khởi đi từ những năm tháng quân trường là mồ chôn cái ta phóng túng, nhát gan, nhẹ dạ, đối diện khắc nghiệt cái uy quyền được phong vị hóa làm mệnh lệnh, hy sinh, bổn phận, danh dự, trách nhiệm…dính như keo sơn đến tận thế đời ḿnh, thần thánh hóa là “vị quốc vong thân”. Bước vào quân trường, ai cũng như ai, được huấn nhục để trui rèn cái kỹ cương bền bỉ, sức chịu đựng dẻo dai, sự kiên cường lẫm liệt và tấm ḷng hy sinh v́ dân, v́ nước. Nhớ thời học đường chênh vênh con đường khói sương sẽ phải dấn thân, đâu có cách nào lựa chọn thời đất nước qua phân chiến chinh. Con đường người trai sẽ đi được đánh bóng vốn gịng hào kiệt, phải bỏ lại sau lưng tất cả nỗi niềm riêng tư mà “xếp bút nghiêng theo việc đao cung” là tất nhiên vào“thuở trời đất nổi cơn gió bụi” mà. Chúng ta đă được dạy rằng: “Chí làm trai dặm ngh́n da ngựa. Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao” th́, quân trường có đổ mồ hôi, sôi nước mắt… chẳng là ǵ. Một trái ớt hiểm, bảo “cay”, ừ!, th́ “cay”; Bảo “không cay”, ừ th́ “không cay”. “Ḅ hỏa lực”, “đoạn đường chiến binh, “đu dây tử thần”, nắng mưa quân trường…chẳng có chết thằng Tây đen nào. Chết chăng, những ai lội ngược gịng sóng dữ. Người ta thường nói “học tṛ ḷ ṃ trói gà không chặc”.
Các Quân Trường Quang Trung, Đồng Đế, Thủ Đức…huấn nhục, thử lửa, đă làm cho những “học tṛ ḷ ṃ trói gà không chặc” đó thành những chiến sĩ can trường trong lửa đạn, anh hùng nơi trận tiền, để lại thanh sử những chiến công phi thường, hiễn hách.
3- Hồi kư thứ ba trích từ tài liệu [16] :

Các tân binh nhập ngũ ở Chợ Lớn, Sài G̣n, tháng 5 năm 1972 -H́nh trích từ tài liệu [12] & [13]
Sau khi tŕnh giấy tờ và hoàn tất mọi thủ tục tại Pḥng Tuyển Mộ Nhập ngũ Quân Vụ Thị Trấn Sàig̣n-Gia Định ( nằm trên đại lộ Lê Văn Duyệt ,Ḥa Hưng,quận 3, Sài g̣n) , chúng tôi được chỉ định lên xe GMC không có mui che đậu sẵn ở trước cửa. Mỗi xe chở 30 tân binh, đoàn xe trực chỉ đi đến Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ (TT3TMNG).
Xe đi trở lại về hướng chợ Ḥa Hưng, qua chợ Ông Tạ, đến ngả tư Bảy Hiền, rồi thẳng đường đi Quang Trung (Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ?).
Tôi ngồi yên lặng trên băng xe phía sau, nh́n những quang cảnh sinh hoạt quen thuộc của đường Lê văn Duyệt, con đường mà tôi đă lớn lên với tuối học tṛ của những buổi trưa nắng, buổi chiều mưa…Tôi mở mắt to nh́n lại một lần chót, trước khi tôi rời xa khung cảnh thân thương quen thuộc ấy. Xe cộ vẫn tấp nập ồn ào, con đường vẫn xôn xao như ngày nào.
Thấy đoàn xe chở tân binh đi ngang qua, dân chúng hai bên đường vẫy tay chào tạm biệt. Tôi nghe tiếng la ó từ trên xe của những người bạn tân binh vẫy tay chào lại, nhất là mỗi khi xe đi qua mặt các cô thiếu nữ đang đi xe đạp, xe gắn máy …
Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ (TT3TMNG) :
Đoàn xe rẽ vào cổng Trung Tâm 3 Tuyễn Mộ Nhập Ngũ và đi theo con đường quanh co dọc theo các dăy nhà, trại làm việc. Xe ngừng lại. Chúng tôi được lệnh xuống xe, xếp hàng ngồi chồm hỗm chờ các cán bô Trung Tâm sắp xếp công việc.
Sau khi được các cán bộ TT3TMNG cấp phát quân trang tạm thời, đọc cho ghi số quân, trời đă gần nửa đêm, chúng tôi được các cán bộ TT3TMNG dẫn đi đến các barrack (dăy nhà doanh trại ?) để t́m chổ nghỉ lưng tạm, chờ sáng hôm sau làm việc tiếp.
Giường ngủ là hai dăy nền xi măng, chiều ngang khoảng 2.5 mét, xây cao hơn mặt nền nhà khoảng 0.5 mét, song song theo hai bên vách của barrack, chạy dài từ cửa trước cho đến cửa sau. Chính giữa barrack treo cái bóng đèn tỏa ánh sáng lờ mờ, như thiếu hơi điện. Mọi người trưng dụng (lấy ?) những quân trang tạm thời vừa mới được cấp phát, trải ra trên nền xi măng để nằm tạm qua đêm.
Đêm đầu tiên bắt đầu cuộc đời lính, được nếm mùi đời có chút hơi “bụi”, tôi cảm thấy khó ngủ v́ đông đảo người ồn ào và khói thuốc lá bay mù mịt.
Tôi nằm trăn trở, xoay ḿnh qua lại, cố dỗ giấc ngủ. Những h́nh ảnh của thành đô cứ ẩn hiện chập chờn trước mắt. H́nh ảnh của gia đ́nh, của bạn bè, của người yêu, người chưa yêu, h́nh ảnh phố xá tấp nập, h́nh ảnh căn pḥng nhỏ của tôi có kê chiếc bàn vuông và kệ sách đựng đủ loại sách báo....
Buổi sáng ngày kế tiếp, các Tân Binh tập hợp xếp hàng dài, ngồi xếp bằng bẹp xuống đất, được các cán bộ của TT3TMNG phát cho một xấp giấy có in sẵn các mẫu khai lư lịch, t́nh trạng sức khỏe v.v…
Ngồi chờ nghe các cán bộ giải thích, chỉ dẫn nầy nọ, nọ kia…Nắng lên, bắt đầu cảm thấy nóng nực, mồ hôi rịnh trên trán, hai chân tê mỏi, tôi muốn duỗi chân ra một cái cho thoải mái…mà không duỗi ra được !
Mặt trời đă lên đến đỉnh đầu, chúng tôi mới được tan hàng. Mọi người tụ năm tụm ba đứng đầy dưới những tàng cây Bă Đậu dọc theo hai bên con đường đi vào dẫy nhà lợp tôn dung làm chổ làm việc cho các cán bộ của Trung Tâm. Kẻ đi t́m nước uống, người ngồi ph́ phà nhả khói …
Buổi chiều, chúng tôi được di chuyển sang một khu trại nhà tập thể, bên trong có để sẵn hơn 200 chiếc giường chồng hai tầng bằng gỗ, cũ kỹ. Chúng tôi được lệnh tạm trú tại đó, chờ đến khi có lệnh mới. Một bồn nước được xe kéo đến, mọi người xúm nhau bu quanh để chờ hứng nước vào chiếc b́nh bằng nylon cá nhân, có h́nh dạng như cái gối nhỏ, chứa khoảng 5 lít nước. Cảnh chen lấn, hổn độn vô trật tự. Tôi đứng nh́n thấy mà chán!
Tôi đứng chờ cho bớt người dành giựt để hứng một ít nước cho vào chiếc b́nh nylon chứa nước của tôi, nhưng hết đợt nầy lại đến đợt khác, người người cứ tiếp tục giành giật. Nh́n thấy có nhiều anh đă lấy nước xong rồi, c̣n trở lại cởi áo ra tắm tại chổ, nước chảy tràn ngập ra sân…Chán nản, tôi bỏ đi sang Câu Lạc Bộ bên kia con đường, mua một ly cà phê đá và một gói thuốc lá ngồi nhấm nháp.
Mặt trời xế bóng, cán bộ TT3TMNG phát loa phóng thanh gọi tập hợp và có người hướng dẫn xuống nhà Bàn (nhà ăn) lấy thức ăn. Trong nhà tập thể đă nóng vậy, mà nhà Bàn c̣n nóng hơn!
Tôi đứng chờ đến phiên ḿnh lấy thức ăn, mồ hôi chảy đẩm ướt mặt mày, quần áo. Nhà Bàn phất lên mùi hôi v́ thiếu sạch sẽ. Ngửi mùi thôi.. là thấy đă muốn nhợn ói. Tôi không biết một lát nữa đây, thức ăn sẽ như thế nào?
Tôi chỉ lấy cơm thôi, không lấy thức ăn v́ mùi cá tanh quá! Cơm nấu trong cái chảo to, có bỏ vitamine trên mặt màu hơi vàng. Trở lại Câu Lạc Bộ để mua thức ăn và ly trà đá uống để “chửa lửa”, tôi ngồi ĺ bên đó cho đến chập tối, khi có lệnh tập hợp mới trở về.
Chiều tắt nắng, không khí dịu bớt hơi nóng. Sau khi tập hợp xong, tôi t́m chổ t́ểu tiện và tắm “dă chiến” một phát cho khỏe người, xong trở lại chiếc giường chồng hai tầng nằm mắm mắt.. để đó mà nghe chung quanh đầy những âm thanh không được êm dịu. .
Buổi sáng hôm sau, thiên hạ thức dậy ồn ào ở bồn chứa nước để rửa mặt, đánh răng. Một vài người xô đẩy, gây gổ dành đến phiên ḿnh trước. Tôi dùng lượng nước c̣n lại ở trong b́nh dùng làm gối kê đầu để rửa mặt, chớ không đến bồn chứa nước.
8 :30 sáng, tập hợp. Mỗi người được phát cho một khúc bánh ḿ dài chừng 6 inches (1.5 tất) và một ít đường cát trắng để ăn với bánh ḿ. Sau đó cán bộ TT3 đọc tên từng người lên nhận giấy phép cho về. Tôi không được phép về, v́ bữa khai trong phiếu sức khỏe, mắt bị cận thị, nên họ giữ tôi lại chờ chở sang bệnh viện Cộng Ḥa khám mắt.
Tất cả được về phép, chỉ c̣n khoảng 50 người ở lại chờ đi khám bệnh. Nh́n thấy thiên hạ đi phép mà tôi thèm thuồng. Mới xa nhà, xa thành phố có mấy hôm, tôi tưởng chừng như cả tháng…Tôi nhớ nhà vô cùng, nhớ phố phường, nhớ người yêu..khoắc khoải trong ḷng.
Khu nhà tập thể vắng lặng, không tiếng ồn ào, không mùi khói thuốc lá. Những người ở lại chờ đi khám sức khỏe được tắm rửa no nê. Buổi tối, tôi sang Câu Lạc Bộ ngồi uống cà phê, khói lửa, nghe nhạc đến khuya mới về ngủ.
Ba ngày kế tiếp, mỗi buổi sáng thức dậy tập họp, có xe GMC đậu chờ sẳn chở sang nhà thương Cộng Ḥa khám mắt. Xe chạy ngang qua các khu dân cư đang sinh hoạt, thấy không khí vui làm sao..
Đám người đi phép trở lại, hôm sau được gọi tên, mang quân trang lên xe GMC chờ sẵn đưa sang Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thụ huấn Giai đoạn 1 Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan. Cứ mỗi ngày, ngày nào cũng có người đi.
Có tất cả 12 khóa Sĩ Quan Trừ Bị, mỗi khóa có từ 500-900 người. Tôi bị kẹt ở lại khám sức khỏe 2 tuần lễ, bị lọt xuống đến khóa 10B/72.
Tôi được cho về phép 3 ngày, sau khi có kết quả khám mắt. Chả được ǵ ! Cận nặng, cận nhẹ, cận thị hay không cận ǵ cũng cá mè một lứa. Ba ngày phép tôi ở nhà, không muốn đi đâu, không muốn thăm em nào hết. Nằm trong TT3TMNG th́ nhớ nhung đủ thứ, giờ được về nhà, tôi lại không muốn đi đâu, mà cảm thấy lưu luyến cái không khí gia đ́nh ḿnh, tôi muốn đưọc gần gũi với cha mẹ, với anh chị em.
Hết phép, trở lại TT3TMNG . Hôm sau tôi được gọi tên sang Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (TTHLQT) để thụ huấn giai đoạn I Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan.
Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (TTHLQT) :
Sau khi thụ huấn hết giai đoạn 1 tại đây, các Khóa Sinh lên đường đi công tác, được tạm thời gắn Alpha.
Đoàn xe GMC chở đám sinh viên sĩ quan (SVSQ) trở lại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (TTHLQT) sau hơn 2 tháng đi công tác chiến dịch tuyên truyền cho Hiệp Định Paris 1973.
Những ngày kế tiếp, chúng tôi không ra bải tập mà ngồi học trong pḥng. Lệnh của Tiểu Đoàn bảo tất cả khóa sinh phải “tháo Con Cá”(Alpha) xuống, trở lại là khóa sinh Dự Bị Sĩ Quan như trước.
Trở lại ăn cơm ở nhà Bàn..ớn “ tới cổ. Bữa nào nhà Bàn cũng thu dọn cho heo ăn mệt nghỉ. Thực phẩm mang vào quân trường sau chiến dịch, đứa nào cũng c̣n đầy ba lô, ăn cả tuần lễ mới hết. Xuống nhà Bàn chỉ lấy cơm thôi, rồi mang sang Câu Lạc Bộ ngồi ăn.
Buối tối trong barrack như ngày hội Tết, anh nào cũng ngồi kề bên cái rương cây đựng quần áo, bên nhọn đèn cầy cậm cụi, cấm cúi viết thư. Câu Lạc Bộ bán sạch hết đèn cầy, các “thư sĩ” phải trưng dụng đến đèn pin. Đêm nào sĩ quan cán bộ Đại Đội Trưởng đi kiểm soát cũng la hét ôm xồm v́ một số anh em miệt mài “gởi ḍng tâm sự” qua giấy bút, không ngủ đúng giờ qui định. Anh em áp dung phương cách ngụy trang “trùm mền”, mở đèn pin, nằm xấp viết thư kín đáo.
Buổi sáng, xếp hàng đi đến lớp học, đă có hơn phân nửa đứng sang một bên “khai bịnh” lên bệnh xá xin thuốc, chích thuốc.
Sau hơn một tuần lễ trở lại TTHLQT, chúng tôi được lệnh thu xếp quân trang, sang Trại Chuyển Tiếp để chờ đi quân trường khác thụ huấn tiếp giai đoạn 2.
Quân trường Vơ Bị Thủ Đức chật nức, không c̣n đủ chỗ chứa nữa. Tổng Cục Huân Huấn mượn đỡ trường Đồng-Đế Nha Trang (Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế) để huấn luyện sĩ quan. (Có 12,000 SVSQ Trừ Bị tốt nghiệp trường Đồng Đế-NhaTrang và một số các SVSQ Không Quân, Hải Quân thụ huấn quân sự tại đây) .
Tiểu Đoàn của chúng tôi được chỉ định đi đến trường Đồng Đế-Nha Trang.
Sau đây là :
Bộ chỉ huy TTHLQT tháng 4/1975 trích từ tài liệu [1] :
Họ và tên - Cấp bậc - Chức vụ - Chú thích
1 -Trần Bá Di-Vơ Bị Đà Lạt K5 -Thiếu Tướng - Chỉ Huy Trưởng;
2 -Nguyễn Văn Huấn-Vơ Bị Đà Lạt K3 -Đại tá -Chỉ Huy Phó;
3 -Phạm Văn Hưởng-Vơ Bị Huế K2 -Tham Mưu Trưởng.
Chỉ Huy Trưởng qua các thời kỳ trích từ tài liệu [1] :
Họ và Tên - Cấp bậc -Tại chức -Chú thích
1 -Trần Tử Oai-Vơ Bị Tông Sơn Tây -Trung Tá -01/1954-12/1955 -Sau cùng là Tổng Trưởng Thông Tin. Giải ngũ năm 1965 ở cấp Thiếu tướng ;
2 -Lâm Văn Phát- Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông-Trung Tá -1/1956-1/1957 -Sau cùng là Trung Tướng Tư Lệnh Biệt Khu Thủ đô;
3 -Nguyễn Ngọc Lễ-Trường Hạ Sĩ Quan Pháp -Trung Tướng -1/1957-08/1958 -Giải ngũ năm 1965 ;
4 -Hồ Văn Tố-Vơ Bị Quốc Gia Huế -Đại Tá -08/1958-01/1959 -Đột ngột từ trần tại tư thất đêm 19 tháng 5 năm 1962 ;
5 -Mai Hữu Xuân-Liêm Phóng Pháp -Thiếu Tướng -01/1959-11/1963 -Sau cùng giữ chức Phụ Tá Tổng Tư Lệnh Quân Lực (Tổng Tham Mưu Trưởng). Giải ngũ năm 1965 ở cấp Trung Tướng ;
6 -Đặng Thanh Liêm-Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông Đà Lạt -Đại Tá -11/1963-02/1964 -Sau cùng giữ chức Tư Lệnh Sư đoàn 5 BB. Giải ngũ năm 1965 ở cấp Thiếu Tướng ;
7 -Phạm Văn Liễu-Vơ Bị Lục Quân Chapa, Yên Bái do Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập -Trung Tá -02/1964-03/1964 -Sau cùng giữ chức Tham Vấn Ḥa đàm Paris. Giải ngũ cấp Đại Tá ;
8 -Nguyễn Thanh Sằng-Vơ Bị Huế K2 -Đại Tá -03/1964-07/1964 -Sau cùng là Thiếu Tướng Tư Lệnh Phó Quân đoàn IV. Giải ngũ năm 1973;
9 -Vũ Ngọc Tuấn Sinh-Vơ Khoa Nam Định -Trung Tá -07/1964-10/1964 -Sau cùng là Đại tá Tham Mưu Trưởng Quân đoàn III;
10 -Nguyễn Văn Vỹ-Vơ Bị Tông Sơn Tây -Thiếu Tướng -10/1964-11/1966 -Sau cùng giữ chức Tổng Trưởng Quốc Pḥng. Giải ngũ năm 1973 ;
11 -Lê Ngọc Triển-Vơ Bị Huế K2 -Đại Tá -11/1964-08/1969 -Sau cùng là Thiếu Tướng Tham Mưu Phó Bộ Tổng Tham Mưu ;
12 -Hoàng Văn Lạc-Vơ Bị Huế K2 -Thiếu Tướng -08/1969-06/1972 -Sau cùng là Thiếu tướng Tư Lệnh Phó Lănh thổ Quân khu 1 ;
13 -Đoàn Văn Quảng-Vơ Bị Pháp - Thiếu Tướng -6/1972-1/1973 -Sau cùng là Thiếu tướng Phụ tá cho Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu;
14 -Phạm Văn Phú-Vơ Bị Đà Lạt K8 - Thiếu Tướng -01/1973-11/1974 -Sau cùng là Thiếu tướng Tư Lệnh Quân đoàn II. Tự sát ngày 30/4/1975;
15 -Trần Bá Di- Thiếu Tướng -11/1974-04/1975 -Là một trong 8 tướng lănh bị tù lưu đày với thời gian lâu nhất (17 năm) .
Theo tài liệu [3] : Người ta nói ai học trường công Lư Thường Kiệt phải nhớ ơn Thiếu Tướng Tràn Tử Oai , ba anh em nhà tôi (tác giả tài liệu [3] ) c̣n nhớ. Sĩ tử nộp đơn ứng thí không phân biệt con em lính hay dân như chúng tôi b́nh đẳng; Ngay cả có cả chục học sinh từ G̣ Vấp đạp xe đi học .
Xin ghi thêm : Trường Lư Thường Kiệt là trường trung học tổng hợp công lập đệ nhị cấp hỗn hợp nữ và nam sinh thiết lập năm 1957. Cơ sở đầu tiên được thiết lập trong khu vực TTHLQT gần nhà thờ với 5 pḥng học để dạy cho con em các quân nhân phục vụ trong Trung Tâm và các học sinh quanh Trung Tâm như Trung Chánh, Chợ Cầu, Bà Điểm, Xóm Mới, Đông Hưng Tân. Về sau với đà phát triển , trường di chuyển cơ sở chánh tại khu đất sân vận động Hốc Môn, đối diện đ́nh thần xă Thới Tam, quận Hốc Môn.

Trường Lư Thường Kiệt Hốc Môn bắt đầu có h́nh chữ L, có cột cờ và tường rào. Vài cây mă (bă) đậu được trồng trong sân trường cho có bóng mát. Sở dĩ trồng mă đậu mà không trồng phượng vĩ (flamboyant) v́ cây mă (bă) đậu tăng trưởng rất nhanh để tạo bóng mát cho sân trường. Hơn nữa trường chịu ảnh hưởng của việc trồng cây mă (bă) đậu trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Xem thêm chi tiết trong bài Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975-Trường Lư Thường Kiệt của cùng tác giả.
Xin ghi thêm một sự tích xảy ra vào thời Thiếu Tướng Trần Tử Oai c̣n là Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng TTHLQT :
Theo tài liệu [17] :
Trong phạm vi của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung có một ngôi chùa tên là Thới B́nh.
Theo dân mấy thôn làng kế bên kể lại th́ trước kia đây là một doanh trại của lính Lê Dương thuộc quân đội Pháp trấn đóng để bảo vệ cửa ngơ vào thành phố Sàig̣n. Sau khi đại đội lính Lê Dương rút đi th́ một thời gian sau người ta thấy ngôi chùa được xây dựng lên với sự đóng góp tài vật của dân làng và những gia đ́nh mộ đạo Phật và bá tánh trong vùng lân cận và do lực lượng Công Binh của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung đảm nhiệm phần kiến tạo.
Đại Đức Minh Tâm, pháp danh Thích Thiện Chánh lúc đó 22 tuổi cũng nằm trong số những vị sư được đưa vào Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để thụ huấn về quân sự.
Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung lúc đó là Thiếu Tá Trần Tử Oai (năm 1954-1955) một hôm nằm mộng thấy một vị Bồ Tát hiện xuống với ánh sáng chói ḷa mà ông nghĩ rằng đó là Đức Phật Bà Quán Thế Âm. Ngài nói rằng trong tay Thiếu Tá đang có một viên ngọc quí và hiếm, hăy cho người đó được trở lại cuộc sống tu hành và cho về trụ tŕ ngôi chùa bỏ hoang kia th́ sẽ được nhiều phước đức.
Buổi sáng khi thức dậy Thiếu Tá Oai vẫn c̣n ghi nhớ như in giấc mộng thần linh tối hôm qua nhưng bán tín bán nghi nên bèn kêu viên sĩ quan phụ tá t́m xem thử trong đám người mới nhập trại có ai tên là Minh Tâm hay không.
Sau khi được xác nhận là có một vị Đại Đức tên họ tục danh như vậy, ông bên cho kêu vào để gặp mặt. Khi thấy Đại Đức Minh Tâm với khuôn mặt hiền ḥa và từ con người của thầy như toát ra một cái ǵ thật là nhân hậu th́ ông nổi giận và gọi viên Trung Úy vừa th́ hành xong nhiệm vụ đưa các tân binh vào Trung Tâm để thi hành nghĩa vụ quân dịch và khiển trách viên sĨ quan này sao lại bắt một người tu hành như vậy.
Đại Đức Minh Tâm liền được thả ra khỏi trại lính và được đưa qua trụ tŕ chùa Thới B́nh để thầy từ nay sẽ lo vấn đề đạo pháp cho các tân binh và sĩ quan tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.
Chẳng bao lâu sau th́ chùa Thới B́nh trở thành một ngôi chùa được nhiều thiện nam tín nữ kể cả các tân binh quân dịch đến thăm viếng, nhất là những ngày Rằm và Lễ Tết trong năm. Các tân binh theo đạo Phật thương yêu gọi là ngôi chùa của Trung Tâm.
Qua thập niên sáu mươi, nhờ công đức đóng góp của các Phật tử, Thầy Thích Thiện Chánh nay là Thượng Toạ đă xây xong một ngôi chùa mới là chùa Thới Ḥa nằm trên đường Quang Trung, Quận G̣ Vấp. Thầy rời chùa Thới B́nh giao lại cho một vị sư khác trụ tŕ và về trông coi ngôi chùa Thới Ḥa cho đến sau tháng Tư năm 1975 khi bọn cộng sản bắc việt vào xâm lăng và ăn cướp Miền Nam th́ Thầy Thích Thiện Chánh (Minh Tâm) và các vị sư trong Nha Tuyên Úy Phật Giáo thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa bị bọn chúng bắt đi tù lao động khổ sai.
Thầy Thích Thiện Chánh và Thầy Thích Thành Long, quyền Giám Đốc Nha Tuyển Úy, cùng các vị Đại Đức, các Linh Mục và Mục Sư khác được thả ra khỏi trại Ba Sao, Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh sau mười ba năm giam giữ.
Khi trở về chùa Thới Ḥa th́ ngôi chùa này đă tan hoang chỉ c̣n cái xác chùa. Thầy Thích Thiện Chánh ra sức tu sửa lại và từ chối ra đi theo chương tŕnh Nhân Đạo của Hoa Kỳ để ở lại với ngôi chùa thân yêu của ḿnh cũng giống như tháng Tư năm 1975, Thầy đă từ chối rời bỏ Sài g̣n để qua Hoa Kỳ theo chương tŕnh di tản của Ṭa Đại Sứ Mỹ.
Ngôi chùa Thới Ḥa đă được trùng tu trở lại và bắt đầu có đông đảo các Phật Tử đến thăm viếng như xưa sau năm năm thầy trở về nhưng đó cũng chính là lúc mà Thầy viên tịch, rời bỏ chốn hồng trần này để trở về với cơi vĩnh hằng.
Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung đă tṛn trách nhiệm của ḿnh cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 .
Theo tài liệu [3] : Vào trận chót giờ thứ hăm lăm gần cổng trại ( cũng Vỏ Tánh ) TTHLQT ,đối diện trường trung học Ngô Tùng Châu ,những khóa sinh đang thụ huán tại đây đă bắn hạ một T54 của giặc cộng gục giữa đường. Hoan hô các anh hùng trẻ tuổi này, mặc dầu chỉ mới có học vỡ ḷng huấn luyện quân sự nhưng với ḷng can đảm vượt bực đă dám đương đầu với xe tăng T54 ).
Sau ngày đứt film (30/4/1975) khi c̣n chưa có …chính sách ” Ngăn sông cấm chợ ” nón cối gác cổng nhưng thời đó cho qua cổng thoải mái khi tôi (tác giả tài liệu )đi ngang cỗng nghe có tiếng nón cối nào nghêu ngao bài ‘” Rừng ná thấp ” Ôi chu choa nhạc dzàng nó …” Thấm sâu nóng lâu …” như dầu nóng hay dầu ǵ đó.
Phụ đề 1 : Vườn Tao Ngộ trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung
Theo tài liệu [3] & [4]& [18] :
Vườn Tao Ngộ có tên chính thức là Vườn Cộng Ḥa ,là khu tiếp tân của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (TTHLQT).
Nơi đây, những người trai thời loạn vừa mới từ giă cuộc đời dân chính gặp gỡ tiếp đón thân nhân ḿnh vào mỗi ngày chủ nhật sau một tuần lễ luyện tập gian khổ.
Nơi đây đă chứng kiến và ghi lại những nụ cười rộn ràng, những giọt nước mắt lưu luyến cảm động nhất của người t́nh, của cha mẹ, anh em, vợ con của người lính mới. Có thể nói t́nh yêu trong thời chiến là mối t́nh thiết tha nhất, v́ nó mang cả tâm t́nh của người hậu phương gửi trao cho người ra tiền tuyến. Người lính không chỉ là người thân, người yêu, họ là niềm hănh diện của gia đ́nh và các người t́nh thiếu nữ.
Trong cái nắng đổ lửa của quân trường, bóng người tân binh bên những tà áo dịu dàng của các thiếu nữ chợt ngọt ngào như một lời ước hẹn.
Vườn Tao Ngộ rộng khoảng 3 tới 4 mẫu rộng gấp sáu lần diện tích sân banh, có vài chục gian nhà và vườn hoa, và khi người thân đến thăm quá đông c̣n phải ngồi trải ra cả băi cỏ mới đủ chỗ.
Ở đây có gian nhà bán tạp hóa, giữa khu là rạp hát to với sân khấu rộng. C̣n giữa sân trong cổng là sân khấu có h́nh giống như tháp Eiffel lưng chừng để khán giả ngồi tứ phía xung quanh dự khán đều thấy rơ. Vào tối cuối tuần, sân khấu có tổ chức văn nghệ phục vụ cho thân nhân của tân binh.
V́ thân nhân từ tứ phương miền Trung, miền Tây lặn lội đến thăm nên phải đến vào ngày hôm trước. V́ thế trong này có dựng những dăy nhà tiếp tân cho thân nhân từ xa tá túc qua đêm.
Mỗi ngày chủ nhật, tại Vườn Tao Ngộ này, lính trẻ và thân nhân tha hồ mở ḷng tâm sự cho bơ nhớ thương những ngày xa cách… khung cảnh này nhộn nhịp hơn cả ngày hội chợ Tết .
Khoảng cuối thập niên 1960, cứ vào mỗi chủ nhật hàng tuần, nhạc sĩ Khánh Băng đều vào quân trường Quang Trung để thăm một người em họ đang thụ huấn tại đây. Ông đă chứng kiến những buổi tao ngộ đầy cảm xúc của các đôi t́nh nhân nơi đây nên đă ghi lại thành bài hát Vườn Tao Ngộ viết với bút danh Nhật Hà.
Ca khúc Vườn Tao Ngộ được ca sĩ Giao Linh hát trước năm 1975, rất được công chúng yêu thích. Nhưng phiên bản hay nhất của bài này có lẽ là Tuấn Vũ và Sơn Tuyền với phần ḥa âm của Asia.
Sau đây là lời Ca khúc Vườn Tao Ngộ trích từ tài liệu [19] :
Hôm nay ngày Chủ
Nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh.
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi.
Mà em đâu có ngại khi t́nh yêu ngun ngút cao lên rồi.
Ta nh́n nhau bâng khuâng.
Đâu biết rằng chuyện đôi ta sẽ vui hay buồn.
Ngày mai ra đơn vị, đường trần hai lối
mộng thôi từ đây biết ra sao?
Nếu chúng ḿnh ước hẹn, ngày tao ngộ xa quá anh
ơi!
Thời gian xin lắng đọng đợi chờ.
Để đôi tim ước mộng đem t́nh
thương tô thắm đôi môi hồng.
Đây một phong thư xanh, trao đến người,
để quên đi những đêm quân trường,
sầu cô đơn hiu quạnh, vùi đầu bên chén trà t́m
đọc thư em.
Anh ơi, dù non sông cách trở,
Xin anh đừng quên bao kỷ niệm, ngày nao hai dứa
ḿnh,
cùng nhau chung mái trường tuổi học sinh đẹp
như gấm hoa.
Anh đi ngày mai trên chiến địa.
Nơi đây, t́nh yêu em vẫn đợi,
Cầu xin non nước ḿnh được yên vui thái b́nh,
t́m trao ước hẹn ḥ.
Tiếng nói cùng tiếng cười, giờ tao ngộ
lưu luyến bên nhau.
Mừng vui chưa nói được cạn lời.
Giờ chia tay năo nề ngại ngùng thay chân bước
đi không đành.
Vui đời trai phong sương, vai gánh nặng t́nh non
sông bước chân miệt mài.
Dù núi biếc sông dài, dù trời cao đất lạ đừng
buồn nghe em.
Xin ghi thêm vài hàng về nhạc sĩ Khánh Băng
Theo tài liệu [20] & [21] & [22] :
Nhạc sĩ Khánh Băng tên thật là Phạm Văn Minh, sinh năm 1935 tại Thắng Tam, Vũng Tàu. Nghệ danh Khánh Băng được ông ghép từ tên của hai cô bạn học từ thời tiểu học, một người là Khanh c̣n người kia tên Băng, ông thêm dấu "sắc" thành Khánh Băng. Khánh Băng cũng viết nhiều ca khúc trữ t́nh với các bút danh Anh Minh, Nhật Hà ,Thanh Hà,Thủy Thanh Lam,Khánh Băng.
Năm 1949, Khánh Băng lên Sài G̣n học trung học ở trường Huỳnh Khương Ninh- Đa Kao. Cùng một vài người bạn Vân Hùng, Tùng Lâm... ông lập một ban nhạc cùng nhau thường xuyên tập dượt và chơi miễn phí cho các đám cưới.
Khánh Băng thực sự khởi đầu sự nghiệp ca nhạc năm 1954, được sự hướng dẫn và giúp đỡ của nhạc sĩ Vơ Đức Thu, với cây đàn mandoline.
Sau đó, v́ nhận thấy đàn mandoline không thể phát huy tối đa bằng cây đàn guitar nên ông bắt đầu tập khổ luyện thêm đàn Lục Huyền Cầm (guitar) từ năm 1953-1954.
Khánh Băng thi đậu vào làm nhạc công ở Đài Phát Thanh Sài G̣n. Sau đó, được Tùng Lâm tiến cử với nghệ sĩ Trần Văn Trạch, ông chơi đàn ở đoàn Sầm Giang và rồi ở Đài Phát Thanh Pháp Á.
Khánh Băng được coi là người Việt Nam đầu tiên sử dụng đàn guitar điện trên sân khấu, trong thập niên 1960.
Kháng Băng viết nhạc rất sớm, từ những năm học tiểu học, bản thân ông cũng không nhớ bản nhạc đầu tay của ḿnh. Bài hát đầu tiên của ông được phát thanh là Nụ Cười Thơ Ngây, do Minh Trang và Anh Ngọc song ca trên Đài Phát Thanh Sài G̣n ngày 15 tháng 3 1955.
Khánh Băng bắt đầu thành danh với Vọng Ngày Xanh được viết năm 1956. Nhạc phẩm này được nhà văn nữ nổi tiếng Françoise Sagan viết lời Pháp và cũng nhờ Vọng Ngày Xanh, ông được Hội Tác Quyền Thế Giới mời gia nhập. Vọng Ngày Xanh được nhiều ca sĩ như Minh Trang, Lệ Thu,Hùng Cường... tŕnh bày, trong đó thành công hơn cả phải kể đến danh ca Thái Thanh.
Nhạc sĩ Khánh Băng là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng của ḍng nhạc vàng, tác giả của những bài hát nổi tiếng như Vườn Tao Ngộ, Sầu Đông, Nếu Một Ngày, Sáu Tháng Quân Trường, Giờ này Anh Ở Đâu…
Khánh Băng viết rất nhiều ca khúc có tiết tấu nhanh, sôi động, thường được gọi là thể loại nhạc kích động. Những bài hát Sầu Đông, Có Nhớ Đêm Nào, Tiếng Mưa Rơi... do ông sáng tác vào khoảng năm 1962 được coi là những bài nhạc trẻ đầu tiên ở Việt Nam
Sầu Đông, một trong hai nhạc phẩm nổi tiếng nhất của Khánh Băng cùng Vọng Ngày Xanh, c̣n được ông viết thêm lời Pháp. Nó cũng có thêm lời tiếng Anh do một người khác viết.

Nhạc sĩ Khánh Băng và danh ca Bạch Yến trên b́a nhạc bài Sầu Đông – H́nh trích từ tài liệu [21]
Ca khúc được nhiều người biết đến nhất của nhạc sĩ Khánh Băng có lẽ là Sầu Đông, được viết theo điệu Twist rất thịnh hành ở Mỹ vào thập niên 1960. Thể loại này được du nhập và phổ biến ở Sài G̣n với cái tên là “nhạc kích động”.

Ban nhạc Khánh Băng với Lê Duyên, Phùng Trọng, Khánh Băng, Duy Mỹ -Hinh trích từ tài liệu [21]

Ảnh bên trái là Ban Kích Động Nhạc Thời Đại với 4 nhạc sĩ Dương Quang Định, Dương Quang Lê Minh, Phùng Trọng và Khánh Băng chụp khoảng năm 1962-1963 . Ảnh bên phải , Khánh Băng chụp bởi Trần Quốc Bảo năm 1995 - Hinh trích từ tài liệu [21] & [22]
Ban Khánh Băng-Phùng Trọng tŕnh diễn ở Olympia, Văn Cảnh, pḥng trà Khánh Ly.. và nhất là các Club Mỹ. Tiếng trống Phùng Trọng, tiếng guitar Khánh Băng, tiếng bass Duy Khiêm, tiếng mandoline Lê Duyên, có nhiều lúc cùng với tiếng dương cầm Nguyễn Ánh 9, tiếng harmonica Ṭng Sơn phối hợp với các giọng ca Mai Lệ Huyền, Kiều Loan, Ngọc Mỹ, Mary Linh, Kiều Oanh, Ngọc Vân, Hoàng Hạc, Duy Mỹ.. đă tạo thành một sắc thái rất đặc biệt của ban Khánh Băng – Phùng Trọng những đêm Sàig̣n hoa mộng cũ.

Ban Khánh
Băng-Phùng Trọng và ca sĩ Mai Lệ Huyền– H́nh trích
từ tài liệu [23]
Một ca khúc nhạc sôi động nổi tiếng khác của nhạc sĩ Khánh Băng là “Có Nhớ Đêm Nào”, có thể được hát theo điệu Swing hoặc Twist nổi tiếng với tiếng hát gằn giọng đặc biệt của “nữ hoàng kích động nhạc” Mai Lệ Huyền.
Trong khoảng thời gian từ 1991 đến 1996, trước khi bị mù do ảnh hưởng của bệnh tiểu đường, ông vẫn c̣n sáng tác được hơn 100 bài, trong đó có những bài hát phổ biến như Trên Nhịp Cầu Tre,Chờ Người, Chiều Đồng Quê... mang phong cách miền Nam.
Về số lượng ca khúc ông đă viết, theo lời Khánh Băng: "500 th́ quá ít mà 1.000 lại hơi nhiều".
Ông mất ngày 9 tháng 2 năm 2005, mùng một Tết Ất Dậu tại nhà riêng, đường Chu Văn An,Sài g̣n. Nhạc sĩ Khánh Băng được an táng tại quê nhà Vũng Tàu.
(Xin ghi thêm : Sau năm 1975, đời sống của nhạc sĩ Phùng Trọng rất vất vả và nghèo khó. Ông phải đi bán vé số từ nhiều năm nay, theo tài liệu [22]) .
Phụ đề 2 : Lời bài ca Xuất Quân và bài ca Lục Quân Việt Nam
Lời bài ca Xuất Quân trích từ tài liệu [24] :
Ngày bao hùng
binh tiến lên
Bờ cơi vang lừng câu quyết chiến
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành.
Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành.
Đi là đi chiến đấu
Đi là đi chiến thắng
Đi là mang mối thù thiên thu.
Đi là đi chiến đấu
Đi là đi chiến thắng
Bước lên đây người Việt Nam. (HẾT ở
đây)
Kèn vang theo tiếng chân đang rồn rập xa xa
Tiếng gào thiết tha.
Ngàn lời chính khí đưa
Ầm ầm tiếng thét hoà
Rầm rầm tiếng súng sa trường xa.
Hồn say khi máu xương rơi tràn đầy, ngập
biên khu
Oán thù khắp nơi.
Từng bụi lốc cuốn rơi
Từng giọt máu sáng ngời
Một đường kiếm thép oai hùng đưa.
(trở lại từ đầu, để HẾT)
Lời bài ca Lục Quân trích từ tài liệu [25] & [26] :
Đường
trường xa muôn vó câu bay dập dồn,
Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang,
Đi đi đi lời thề nguyền tung gươm
thiêng thi gan tài.
Đời hùng cường quyết chiến đấu
đoàn quân ra đi,
Đây đoàn quân ra đi nhịp nhàng,
Mang theo thiên hùng ca thắm tươig trời Nam bốn
phương.
Ta anh hùng muôn quân phá tan cường binh
Chí tang bồng mang theo khắp nơi tung hoành
Đường trường xa ta quyết đi cho đến
cùng
Nhịp trời mây đoàn quân cất bước đi mau
Nơi biên cương muôn quân theo loa thét vang
Cố chiến thắng thề một ḷng chung sức xây
Việt Nam quang vinh
Phá tan tành ầm ầm đoàn quân xông pha
Thét oai linh tung gươm giết tan quân thù
Đoàn hùng binh say sưa nh́n trong trời sương
Ta anh hùng đời đời Lục Quân Việt Nam
Xa nh́n thấp thoáng trong mây
Muôn bóng quân Nam chập chùng xây thành vinh quang
Tiếng vang muôn đời Lục Quân Việt Nam.
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_Qu%E1%BB%91c_gia_Quang_Trung Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung .
2. https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/Than-huu-Trung-Tam-Huan-Luyen-Quang-Trung-mung-Xuan-moi-2308/ Thân hữu Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung mừng Xuân mới -March 1, 2016 - Đằng-Giao/Người Việt .
3. https://benxua.wordpress.com/2020/02/20/tan-man-ve-trung-tam-huan-luyen-quang-trung/ Bến xưa - Tản mạn về Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung -Từ Trường -Feb 20,2020 . Nguôn: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?29394-T%E1%BA%A3n-m%E1%BA%A1n-v%E1%BB%81-Trung-T%C3%A2m-Hu%E1%BA%A5n-Luy%E1%BB%87n-Quang-Trung .
4. https://vantholacviet.com/30835-2/ Văn Vườn Tao Ngộ của quân trường Quang Trung -December 26, 2021.
5. https://www.sggp.org.vn/dien-mao-moi-o-vung-dat-du-post317264.html -Diện mạo mới ở vùng đất “dữ” - 15/05/2016 .
6. https://www.facebook.com/groups/767961940630487/posts/1325453204881355/ Miền Nam và Sài G̣n Xưa - Nguyễn Tuấn Hoàng - 31 décembre 2022 -Trung Tâm Tuyển Mộ Nhập Ngũ Quang Trung 1972- Hoàng Đ́nh Phương.
7. https://www.facebook.com/media/set/?set=a.1990430837847177&type=3&comment_id=1990453904511537 Nguyễn Duy- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp.
8. https://bienxua.wordpress.com/2025/01/11/trung-tam-huan-luyen-quoc-gia-van-kiep-va-gio-thu-25-cua-toi-nguyen-van-xuyen/ Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp và gờ thứ 25 của Tôi-Nguyễn Văn Xuyên-Posted by bienxua on January 11,2025.
9. Đài Phát Thanh Sài g̣n trong biến cố Mạu Thân 1968-Huy Quang Vũ Đức Vinh-Thời Báo – Số 500 - 30/07/1999 .
10. https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/17431-%C4%91%C6%B0%C6%A1%CC%80ng-quang-trung-n%C4%83%CC%81ng-%C4%91%C3%B4%CC%89 Trường Quang Trung nắng đổ - Chu Kim Long -Đường Quang Trung nắng đổ -02-11-2020 .
11. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ - 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Posted on January 3,2025 by dongsong cu-31/12/2024-NVQ sưu tầm.
12. https://www.facebook.com/oldsaigon75/posts/trung-t%C3%A2m-tuy%E1%BB%83n-m%E1%BB%99-v%C3%A0-nh%E1%BA%ADp-ng%C5%A9-sau-khi-t%E1%BB%95ng-th%E1%BB%91ng-nguy%E1%BB%85n-v%C4%83n-thi%E1%BB%87u-ban-h%C3%A0nh-l%E1%BB%87nh/2495793970469524/ Sài G̣n Xưa -26 octobre 2019 .
13. https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975).
14. http://batkhuat.net/tl-quantruong.htm Trường Bộ Binh Thủ Đức- Khóa 8B+C/72 Bất Khuất -Quân Trường - Nguyễn Thừa B́nh -Ngày mùa đông Canh Dần năm 2010.
15. https://phamjngocjlaan.wordpress.com/wp-content/uploads/2016/11/chavodanh_40-quantruongquangtrung1.pdf1 Phạm Ngọc Lân : Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp - 40. Quân trường Quang Trung .
16. https://luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm%203-8-43.htm -Từ trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ qua Quang Trung đến Đồng Đế - Nha Trang -Minh Vũ - Hồi Kư .
17. https://nhinrabonphuong.blogspot.com/2025/10/ngoi-chua-trong-trung-tam-huan-luyen.html Ngôi Chùa Trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung – Nguồn Sài g̣n Trong Tôi SGTT-23/10/2025.
18. https://www.facebook.com/thuvienbannhac/posts/v%C6%B0%E1%BB%9Dn-tao-ng%E1%BB%99-nh%E1%BA%ADt-h%C3%A0-chuy%E1%BB%87n-x%C6%B0a-k%E1%BB%83-l%E1%BA%A1i-trung-t%C3%A2m-hu%E1%BA%A5n-luy%E1%BB%87n-quang-trung-quang-tr/122182903892289659/ Trường Ca Sheet Nhạc 30 mai · Vườn Tao Ngộ - Nhật Hà, Chuyện Xưa Kể Lại .
19. https://lyrics.vn/lyrics/6321-vuon-tao-ngo.html .
20. https://hopamviet.vn/info/composer/19/khanh-bang.html Tiểu sử tác giả Khánh Băng .
21. https://nhacxua.vn/cuoc-doi-va-su-nghiep-cua-nhac-si-khanh-bang-nguoi-nhac-si-sang-tac-nhieu-the-loai-nhat-truoc-75/ Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Khánh Băng – Người nhạc sĩ sáng tác nhiều thể loại nhất trước 1975- 2019/08/12.
22. https://thanhthuy.me/tag/duong-quang-dinh/ 10 năm Nhạc Sĩ Khánh Băng đi, Sầu Đông nào vẫn chưa tan (Trần Quốc Bảo) – phần 1.
23. https://www.facebook.com/TheJIMMYTV/posts/v%E1%BB%9Bi-nh%E1%BB%AFng-qu%C3%BD-v%E1%BB%8B-s%E1%BB%91ng-%E1%BB%9F-mi%E1%BB%81n-nam-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-n%C4%83m-1975-%C3%ADt-nhi%E1%BB%81u-%C4%91%C3%A3-nghe-qua-danh-x%C6%B0ng-c/1064607948428276/ The JIMMY TV 26 juillet 2024 .
24. https://lyrics.vn/lyrics/2627-xuat-quan.html Xuất Quân-Phạm Duy (Chiến khu Mây Tào - 1945) .
25. https://lyric.tkaraoke.com/13978/luc_quan_viet_nam.html Lục Quân Việt Nam-Văn Giảng.
26. https://www.facebook.com/100048890413419/posts/nh%E1%BA%A1c-v%C4%83n-gi%E1%BA%A3ng-ph%E1%BA%A7n-il%E1%BB%A5c-qu%C3%A2n-vi%E1%BB%87t-nam-t%C3%A1c-gi%E1%BA%A3-v%C4%83n-gi%E1%BA%A3ng-h%C3%B9ng-ca-%C4%91i%E1%BB%87u-march%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng/1307459380893730/ T́nh Ca Nhạc Sĩ Việt-20 février- (Nhạc Văn Giảng phần 1).
12- Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù : Quân Trường Vương Mộng Hồng - Quận Hốc Môn ,Tỉnh Gia Định & Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám - Quận Tân B́nh-Tỉnh Gia Định
Như ghi ở tựa bài, mục đích chính của bài này là viết về hai quân trường : Quân Trường Vương Mộng Hồng và Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám của binh chủng Nhảy Dù . Nhưng hai quân trường này lại là hai đơn vị yểm trợ cùa Binh Chủng Dù, v́ thế để bài viết được đầy đủ và mạch lạc , Lược Sử H́nh Thành Binh Chủng Nhảy Dù đă ghi thêm vào phần đầu của bài.
Bài này gồm có ba Phần :
Phần 1 : Lược Sử H́nh Thành Binh Chủng Nhảy Dù ;
Phần 2 : Quân Trường Vương Mộng Hồng ;
Phần 3 : Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám .
Phần 1 : Lược Sử H́nh Thành Binh Chủng Nhảy Dù
Theo tài liệu [1] :
Đơn vị Nhảy Dù Việt Nam đầu tiên được thành lập vào ngày 01 tháng 01 năm 1948 là Đại Đội 1 Nhảy Dù Đông Dương (1ere Compagnie Indochinoise Parachutiste CIP ). Đơn vị nầy được biệt phái cho Tiểu Đoàn 1 Biệt Kích Nhảy Dù Thuộc Địa của Pháp ( Bataillon Colonial Commando Parachutiste BCCP ).
Nhận thấy khả năng chiến đấu hữu hiệu của Đại Đội 1 Nhảy Dù Đông Dương, nên sau đó các Đại Đội 3, 5, 7 Nhảy Dù Đông Dương được thành lập. Những Đại Đội nầy cũng được biệt phái cho các Tiểu Đoàn Nhảy Dù Pháp làm Đại Đội thứ Tư trong các đơn vị Nhảy Dù Pháp. Khi các Tiểu Đoàn Biệt Kích Nhảy Dù Pháp luân chuyển về Pháp th́ các Đại Đội Nhảy Dù Đông Dương -Việt Nam được tái biệt phái cho các đơn vị thay thế. Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan chỉ huy các Đại Đội Nhảy Dù Đông Dương phần lớn là người Pháp do các Tiểu Đoàn gốc cung cấp.
Năm 1949, thêm 1 đơn vị biệt lập, Đại Đội 1 Nhảy Dù Pḥng Vệ Bắc Việt được thành lập và Đại Đội Trưởng là Trung Úy Nguyễn Khánh. Một trong những Trung Đội Trưởng là Trung Úy Đổ Cao Trí.
Ngày 01 tháng 10 năm 1949, ba Tiểu Đoàn Bộ Binh Việt Nam đầu tiên được thành lập là các Tiểu Đoàn số 1, 2 và 3, đánh dấu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam từ giai đoạn phụ lực và vệ binh sang giai đoạn Chính Quy. Ngoài các chương tŕnh huấn luyện, đào tạo sĩ quan chỉ huy trong nước, một số sĩ quan Việt Nam đầu tiên cũng được gửi theo học tại các quân trường của Pháp. Cuối năm 1949, Quân đội Quốc gia Việt Nam có 45 ngàn quân.
Ngày 11 tháng 5 năm 1950 tại Sàig̣n, Thủ Tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam với lập trường chống cộng sản, và gia tăng quân số lên đến 60 ngàn người, bao gồm một nửa là lực lượng chủ lực Chính Quy, một nửa là Vệ Binh. Nhiệm vụ của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam là b́nh định và đảm trách một phần nhiệm vụ tác chiến thay dần các đơn vị Quân Đội Pháp.
Cho đến thời điểm nầy Quân Đội Quốc Gia Việt Nam có : Về Lục Quân : 67 Tiểu Đoàn Bộ Binh, 5 Tiểu Đoàn Pháo Binh, một Liên Đoàn Nhảy Dù với 5 Tiểu Đoàn, một Trung Đoàn Thiết Giáp, 6 Đại Đội Truyền Tin, 6 Đại Đội Công Binh và 6 Đại Đội Quân Vận .
Song song với việc thành lập các đơn vị Bộ Binh Việt Nam, Quân Đội Pháp cũng thành lập các đơn vị Nhảy Dù. Ngày 15 tháng 7 năm 1951, bởi quyết định số 1547/EMIFT/1 (Etat Major Interarmees et des Forces Terrestres), Đại Đội 1 Nhảy Dù Đông Dương ( 1er Compagnie Indochinoise Parachutiste – 1CIP) và Đại Đội 1 Pḥng Vệ Bắc Việt ( 1 Compagnie de la Garde) được kết hợp để thành lập Tiểu Đoàn 1.
Nhảy Dù Việt Nam (1er Bataillon de Parachutistes Vietnamiens) đầu tiên tại Chí Hoà Sài G̣n ( Nha Hỏa- Xa tại cống Bà-Xếp Ḥa-Hưng ) , phần lớn các cán bộ chỉ huy đều do người Pháp nắm giữ. Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên là Đại Úy Vervelle kế đó là các Đại Úy Chapuis, Đại Úy Picheri và sau đó mới chuyển qua Sĩ Quan Việt Nam là Đại Úy Nguyễn Khánh rồi Thiếu Tá Albert Lê Quang Triệu, Đại Úy Vũ Quang Tài... Việc huấn luyện nhảy dù và đơn vị được thực hiện tại Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù trong căn cứ Tân Sơn Nhất, và một Trung tâm khác tại Phi Trường Bạch Mai Hà Nội.
Vào ngày 01 tháng 9 năm 1952, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù được thành lập tại Trường Bưởi Hà Nội. Quân số lấy từ các quân nhân Việt và Pháp thuộc Tiểu Đoàn 10 Nhảy Dù Thuộc Điạ (Tiểu Đoàn này bị thiệt hại nặng trong trận đánh với cộng quân Bắc Việt tại Ba V́, Bắc Việt ). Quân số đầu tiên cuả đơn vị gồm 446 Pháp và 408 người Việt . Theo tài liệu [2] , đa số các quân nhân này là người Nùng và dân thiểu số vùng Thượng Du Bắc Việt, do một Sĩ Quan Pháp làm Tiểu Đoàn trưởng (Monteil: 9/1952-6/1953, Mollo: 6/1953-1/1954).
Việc huấn luyện nhảy dù và đơn vị được thực hiện tại trường nhảy dù cạnh phi trường Bạch Mai Hà Nội.
Ngày 01 tháng 4 năm 1952 ,Tiểu Đoàn 4 Nhảy Dù được thành lập tại Đà Nẳng,nhưng sau v́ thiệt hại nặng trong một cuộc chạm súng với một trung đoàn cộng quân tại Lào nên giải tán.
Ngày 01 tháng 9 năm 1953, Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù được thành lập tại Trường Bưởi, Hà Nội từ những cán bộ Việt Nam thuộc Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù Thuộc Điạ . Ngày 20 tháng 11 năm 1953 , Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù Việt Nam cùng với trên 4,000 lính Nhảy Dù khác nhảy xuống căn cứ Điện Biên Phủ trong một cuộc hành quân nhảy dù lớn nhất từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ngày 13 tháng 3 năm 1954, Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù Việt Nam lại nhảy xuống Điện Biên Phủ một lần nửa trong nổ lực tăng viện giải vây cho căn cứ nầy. Khi Điện Biên Phủ thất thủ, Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù Việt Nam hoàn toàn tan rả và được tái thành lập vào tháng 8 năm 1954
Ngày 01 tháng 11 năm 1953, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được thành lập tại Hải Pḥng. Hầu hết Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan chỉ huy đơn vị nhảy dù Pháp thuyên chuyển tới.Ngày 01 tháng 3 năm 1955,Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù bị giäi tán để lấy quân số bổ sung cho các đơn vị khác khi thành lập Liên Đoàn Nhảy Dù Việt Nam.
Đến ngày 01 tháng 3 năm 1954 thêm Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù được thành lập tại Tân Sơn Nh́- Gia Định với thành phần Sï Quan và Hạ Sï Quan hoàn toàn Việt Nam được lựa chọn hầu hết là quân số của Tiểu Đoàn 9 Khinh Quân tại Cà Mau (đa số là người Khmer Krộm) Thiếu Tá Đổ Cao Trí là vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên. Khi Thiếu Tá Trí lên làm Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù ngày 29 tháng 9 năm 1954, Đại Úy Thạch Con được chỉ định
thay thế.
(Chú thích : Qua các đoạn văn trên, năm (5) Tiểu Đoàn 1,4, 5 ,7 và 6 được thành lập theo thứ tự năm 1951,1952,1953,1953 và 1954, trong khi đó tài liệu [3] ghi : Từ năm 1946 đến năm 1954 là giai đoạn các đơn vị Nhảy Dù Việt Nam ra đời, gồm các Tiểu Đoàn 1, 3, 4, 5, 6, 7 ).
Theo tài liệu [3] : Năm 1954 ,hiệp định Genève chia đôi lănh thổ Việt Nam, miền Bắc thuộc quyền kiểm soát của đảng cộng sản độc tài sắc máu , Miền Nam thuộc về những người yêu chuộng Tự Do.
Các Tiểu Đoàn Nhảy Dù Việt Nam đang đồn trú tại miền Bắc gồm các đơn vị:
Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn Trưởng là Trung Úy Phan Trọng Chinh;
Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Le Chaud;
Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Trịnh Xuân Nghiêm;
Các đơn vị này được không vận từ Hà Nội vào đồn trú tại Nha Trang.
Ngày 29 tháng 9 năm 1954, trong chương tŕnh trao trả độc lập cho Việt Nam ,Pháp chính thức bàn giao Quân Đội lại cho Việt-Nam tại sân cờ Liên Đoàn 3 Nhảy Dù GAP 3 (Groupement Aéroportés Parachutiste No.3) Nha Trang. Liên Đoàn Nhảy Dù được thành lập từ đó gồm 4 Tiểu Đoàn 1,3,5 & 6 (Tiểu Đoàn 7 bị giải tán để lấy quân số bổ sung cho các Tiểu Đoàn, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn và các đơn vị yểm trợ) .
Theo tài liệu [3] : Tại đây, v́ nhu cầu thành lập Liên Đoàn Nhảy Dù và Tiểu Đoàn Trợ Chiến Nhảy Dù, nên Groupement Aéroportée Parachutiste No 3 (GAP 3) và Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù phài giải thể.

Một đơn vị Nhảy Dù dàn chào Quốc Trưởng Bảo Đại tại Trường Vơ Bị Việt Nam năm 1954- h́nh trích từ tài liệu [1]
Ngày 09 tháng 9, năm 1954 tức ngày kỷ niệm (Saint Michael) Thánh Tổ Nhảy Dù Pháp và Việt Nam , Liên Đoàn Nhảy Dù Việt Nam thành lập từ 4 Tiểu Đoàn 1, 3, 5 và 6 ra đời. Kể từ ngày này các cấp chỉ huy Pháp chính thức bàn giao quyền chỉ huy đơn vị cho các sĩ quan Việt Nam tại sân cờ của GAP3 tại Nha Trang.

Đài kỷ niệm Thiên Sứ Michael - Thánh Tổ Nhảy Dù Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam – H́nh trích từ tài liệu [3]
Liên Đoàn 3 Nhẩy Dù (GAP 3) có 4.000 người gồm Bộ Chỉ Huy, Đại Đội Chỉ Huy Liên Đoàn, các Tiểu Đoàn 1, 3, 5, 6 Nhẩy Dù, và Tiểu Đoàn Trợ Chiến Nhẩy Dù (gồm các đơn vị Đại Đội Quân Y, Đại Đội Công Binh , Đại Đội Súng Cối, Đại Đội Kỹ Thuật; Phân Đội Truyền Tin và Trung Đội Tiếp Tế Thả Dù ).
Mỗi Tiểu Đoàn Nhảy Dù có một Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, một Đại Đội Trợ Chiến và 3 (sau này là 4) Đại Đội Tác Chiến, tổng số lên tới 1000 người.
Các cấp chỉ huy đầu tiên của Liên Đoàn 3 Nhảy Dù gồm có :
Chỉ Huy Trưởng : Thiếu Tá Đổ Cao Trí.
- Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù , Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Vũ Quang Tài.
- Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Phan Trọng Chinh
- Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù Tiểu Đoàn Trưởng là Trung Úy Nguyển Văn Viên
- Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Thạch Con.
- Tiểu Đoàn Trợ Chiến Nhảy Dù Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Trịnh Xuân Nghiêm, bao gồm các đơn vị :
* Đại Đội Quân Y, Đại Đội Trưởng là Đại Úy Bác Sỉ Ngô Thiên Khai.
* Đại Đội Công Binh Nhảy Dù, ĐĐT là Thiếu Úy Hoàng Công Chức.
* Đại Đội Súng Cối Nhảy Dù, Đại Đội Trưởng là Thiếu Úy Huỳnh Long Phi.
* Phân Đội Truyền Tin Nhảy Dù, Phân Đội Trưởng là Trung Úy Nguyển Văn Viên (khác với Trung Úy Viên TĐT/ TĐ5ND ).
* Đại Đội Kỷ Thuật, Đại Đội Trưởng là Trung Úy Nguyễn Khoa Nam.
Tài liệu [4] cũng viết Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 3 Nhảy Dù là Thiếu tá Đỗ Cao Trí.
Nhưng tài liệu [3] ghi như sau :
Nằm trong chương tŕnh trao trả chủ quyền Quốc Gia lại cho người Việt Nam,lúc đầu Liên Đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam chờ đón cấp chỉ huy Việt Nam đầu tiên là Đại Tá Lam Sơn do Phủ Thủ Tướng đề nghị, nhưng Bộ Tổng Tham Mưu do Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh nắm quyền lại bổ nhiệm Trung Tá Đỗ Cao Trí về nhận chức vụ Tư Lệnh Liên Đoàn Nhảy Dù Việt Nam.
Thành phần tổ chức Liên Đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam như sau :
Tư Lệnh : Trung Tá Đỗ Cao Trí;
Tiểu Đoàn Yểm Trợ : Tiểu Đoàn Trưởng Đại Úy Nguyễn Thọ Lập;
Tiểu Đoàn 1 : Tiểu Đoàn Trưởng Đại Úy Vũ Quang Tài;
Tiểu Đoàn 3 : Tiểu Đoàn Trưởng Đại Úy Phan Trọng Chinh;
Tiểu Đoàn 5 : Tiểu Đoàn Trưởng Đại Úy Le Chaud;
Tiểu Đoàn 6 : Tiểu Đoàn Trưởng Đại Úy Thạch Con.
Ngày 25 tháng 3 năm 1955 , Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 3 Nhảy Dù và 2 Tiểu Đoàn 3 & 5 được di chuyển vào Sàig̣n và Bộ Chỉ Huy đóng tại Trại Quân Cụ cạnh chợ Trần Quốc Toản.
Ngày 04 tháng 6 năm 1955 , toàn bộ Liên Đoàn 3 Nhảy Dù đều di chuyển vào Sài G̣n để hoàn chỉnh và thống nhất chỉ huy dưới quyền cuả các Sĩ Quan Việt Nam.

Các Sĩ quan thuộc Liên Đoàn Nhảy Dù năm 1955 – H́nh trích từ tài liệu [5]
Theo tài liệu [1] & [4] :
Ngày 01 tháng 5 năm 1955 ,Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù được thành lập tại Căn Cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, Tây-Bắc ngoại ô Sàig̣n, rập theo trường nhẩy dù Fort Benning-Hoa Kỳ, dùng tài sản của trường Pháp trước kia và cùng tọa lạc với Liên Đoàn 3 Nhẩy Dù; Chuẩn Úy Trần Văn Vinh là Chỉ huy Trưởng.
Ngày 01 tháng 9 năm 1956, Trung Tá Nguyển Chánh Thi thay thế Đại Tá Đổ Cao Trí trong chức vụ Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù .
Ngày 26 tháng 10 năm 1959,theo đà phát triển quân đội, Liên Đoàn 3 Nhảy Dù được cải danh hành Lữ Đoàn Nhảy Dù và dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi.
Ngày 12 tháng 11 năm 1960, Trung Tá Cao Văn Viên đang là Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống,được đề cử giử chức Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù và sau đó được thăng cấp Đại Tá thay thế Đại Tá Nguyển Chánh Thi tham gia đảo chánh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bất thành và lưu vong sang ở Cam Bốt (Miên).
Giai đoạn phát triển 1961 – 1967.
Ngày 01 tháng 12 năm 1959, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập tại Sàig̣n với Tiểu Đoàn Trưởng Đại Úy Trương Quang Ân.
Đầu năm 1961, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được tái thành lập tại Biên Ḥa, Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Ngô Xuân Nghị.
Năm 1962, theo đà phát triển quân đội VNCH, Lữ Đoàn Nhảy Dù tổ chức thành hai (2) Chiến Đoàn để đáp ứng nhu cầu gia tăng của chiến trường :
Ø Chiến Đoàn 1 gồm 3 Tiểu Đoàn 1,3 & 8 Nhảy Dù do Thiếu Tá Dư Quốc Đống làm Chiến Đoàn Trưởng, bản doanh đóng tại căn cứ Hoàng Hoa Thám, tỉnh Gia Định;
Ø Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù gồm 3 Tiểu Đoàn 5,6 & 7ND, do Thiếu Tá Đổ Kế Giai làm Chiến Đoàn Trưởng, bản doanh tại Tam Hiệp- tỉnh Biên Ḥa
Đầu năm 1964 sau chiến thắng Hồng Ngự trong khu vực phía Tây Đồng Tháp Mười, Đại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù được đặc cách thăng Thiếu Tướng tại mặt trận và được đề cử giử chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân tại Bộ Tổng Tham Mưu và Trung Tá Dư Quốc Đống được đặc cách thăng cấp Đại Tá và thay thế chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù.
Ngày 01 tháng 9 năm 1965, Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù được thành lập tại Sàig̣n. Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Lê Quang Lưởng.
Vào ngày 01 tháng 10 năm 1965, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù cũng được thành lập tại Sàig̣n với Thiếu Tá Lê Văn Huệ làm Tiểu Đoàn Trưởng.
Và để đáp ứng nhu cầu phát triến của Lữ Đoàn Nhảy Dù , một Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly cơ hữu được thành lập trong năm 1965 và đơn vị Quân Y Nhảy Dù cũng được nâng cấp thành Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù trong thời gian nầy để cung cấp dịch vụ y tế trị liệu và tản thương kịp thời cho đơn vị.
Ngày 19 tháng 6 năm 1967, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù được thành lập tại đồi Tăng Nhơn Phú -Thủ Đức tỉnh Gia Định do Thiếu Tá Nguyễn Viết Cần làm Tiểu Đoàn Trưởng.
Để thích ứng với hệ thống chỉ huy “tam tam chế”, thêm Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù được thành lập vào ngày 01 tháng 7 năm 1967 do Trung Tá Nguyễn Khoa Nam làm Chiến Đoàn Trưởng.
Ngày 01 tháng 12 năm 1965, Lữ Đoàn Nhảy Dù được Bộ Tổng Tham Mưu cải danh thành Sư Đoàn Nhảy Dù (SĐND) (Vietnamese Airborne Division, VNAD) và trở thành đơn vị Tổng Trừ Bị trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu - Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa nhưng vẫn do Thiếu Tướng Dư Quốc Đống làm Tư Lệnh.

Kỳ hiệu Bộ Tư lệnh Nhảy Dù- H́nh trích từ tài liệu [6]

Huy hiệu Binh chủng Nhảy Dù – H́nh trích từ tài liệu [6]
Bài ca chính thức Binh chủng Nhảy Dù : Sư đoàn Nhảy Dù Hành Khúc

Bài ca Sư đoàn Nhảy Dù Hành Khúc -Trích từ tài liệu [3]
Ngày 01 tháng 4 năm 1968, ba (3) các Chiến Đoàn Nhảy Dù được cải danh thành Lữ Đoàn:
Ø Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù do Trung Tá Hồ Trung Hậu làm Lữ Đoàn Trưởng;
Ø Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù do Trung Tá Đào Văn Hùng làm Lữ Đoàn Trưởng;
Ø Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Khoa Nam làm Lữ Đoàn Trưởng.
Xin ghi thêm ; Theo tài liệu [7] : Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù c̣n có Trung Tá Bùi Quyền làm Lữ Đoàn Trưởng . Trung Tá Bùi Quyền qua đời ngày 30 tháng 5 năm 020 tại Orange County, California-Hoa Kỳ
Theo sự gia tăng nhu cầu ngày càng nhiều của chiến trường và để yểm trơ hỏa lực hữu hiệu cho ba Lữ Đoàn Nhảy Dù , trong khi chờ đợi sự yểm trợ của các đơn vị pháo binh diện địa, Ban Chỉ Huy/Pháo Binh/Sư Đoàn Nhảy Dù/Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù (BCH/PB/SĐND&TĐ2PBND) được thành lập ngày 01 tháng12 năm 1968, sang năm 1969, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù (TĐ3PBND) được thành lập. Trong thời gian nầy 3 Đại Đội Trinh Sát Nhảy Dù thống thuộc 3 Lữ Đoàn Nhảy Dù cũng được thành lập.
Đến đầu năm 1969, SĐND có 3 Lử Đoàn Nhảy Dù gồm cả thảy 9 Tiểu Đoàn Nhảy Dù tác chiến, 3 Đại Đội Trinh Sát và 3 Tiểu Đoàn Pháo Binh Nhảy Dù.
(Xem thêm chi tiết về Pháo Binh Sư Đoàn Nhảy Dù trong bài Trường Pháo Binh của cùng tác giả).
Năm 1970, các đơn vị Công Binh và Truyền Tin thuộc SĐND cũng được nâng cấp thành
Tiểu Đoàn Công Binh-Sư Đoàn Nhảy Dù (TĐCB/SĐND) và Tiểu Đoàn Truyền Tin- Sư Đoàn Nhảy Dù (TĐTT/SĐND) .

Thiệp chúc Tết Xuân Canh Tuất 1970 của Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù- H́nh trích từ tài liệu [8]

Thiệp chúc Tết Xuân Tân Hợi 1971 của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù- H́nh trích từ tài liệu [8]
Ngày 11 tháng 11 năm 1972, sau mùa Hè đỏ lửa, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưởng chính thức đảm nhiệm chức vụ Tư-Lệnh SĐND thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống.

Thiệp chúc Tết Xuân Nhâm Tư 1972 của Binh Chủng Nhảy Dù -H́nh trích từ tài liệu [8]

Thiệp chúc Tết Xuân Nhâm Tư (1972) của Đại Đội Trinh Sát 2, Sư Đoàn Nhảy Dù- H́nh trích từ tài liệu [8]

Thiệp chúc Tết Xuân Quư Sữu 1973 của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù--H́nh trích từ tài liệu [8]

Thiệp chúc Tết Xuân Quư Sữu 1973 của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù- H́nh trích từ tài liệu [8]

Thiệp chúc Tết Xuân Quư Sữu 1973 của Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù- H́nh trích từ tài liệu [8]
Đầu năm 1974, để đối đầu với sự gia tăng xâm nhập vào miền Nam của cộng sản bắc việt, Bộ Tổng Tham Mưu-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa chấp thuận cho SĐND thành lập thêm Lử Đoàn 4 Nhảy Dù do Trung Tá Lê Minh Ngọc làm Lữ Đoàn Trưởng, và 6 Tiểu Đoàn 12, 14, 15, 16, 17, 18 Nhảy Dù, Đại Đội 4 Trinh Sát Nhảy Dù (ĐĐ4TSND) và Tiểu Đoàn Pháo Binh Nhảy Dù.
Trong thời gian cuối cùng của Việt Nam Cộng Ḥa năm 1975, Lử Đoàn Nhảy Dù 4 trách nhiệm bảo vệ quanh ṿng đai Đô Thành Sàig̣n.
Sư Đoàn Nhảy Dù là một Sư Đoàn tinh nhuệ và thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, đặt dưới quyền điều động trực tiếp của Bộ Tổng Tham Mưu , được sự kính nể của các Quân Lực Đồng Minh và ngay cả giặc cộng .
Phần 2 : Trung Tâm Huấn Luyện Vương Mộng Hồng
Theo tài liệu [3] & [9] : Trong số các đơn vị yểm trợ của Sư Đoàn Nhảy Dù có Khối Bổ Sung (KBS), Trung Tâm Huấn Luyện Vương Mộng Hồng & Tiểu Đoàn Huấn Luyện Vương Mộng Hồng
Theo tài liệu [3] : Khối Bổ Sung (KBS) là một đơn vị ngoài bảng cấp số trực thuộc Pḥng 3 Sư Đoàn Nhảy Dù (SĐND), được h́nh thành như một Trung Tâm Huấn Luyện các tân binh t́nh nguyện về binh chủng Nhảy Dù.
Khối Bổ Sung được thành lập từ khi Liên Đoàn Nhảy Dù trở thành Sư Đoàn Nhảy Dù năm 1965. V́ nhu cầu chiến trường gia tăng, cần phải đào tạo nhiều binh sĩ ưu tú qua 2 giai đoạn:
1. Từ một người thanh niên trở thành môt người lính chiến;
2. Từ môt người lính chiến trở thành môt người lính Nhảy Dù chuyên nghiệp.
Các Đơn Vị Trưởng liên tục của KBS gồm có :
1. Trung Tá Nguyễn Văn Tư;
2. Đại Úy Phạm Thái Ḥa;
3. Thiếu Tá Trần Như Tăng;
4. Trung Tá La Trịnh Tường.
Khối Bổ Sung được tổ chức như môt đơn vị biệt lập gồm có 5 ban :
1. Ban Quân Số;
2. Ban 2 An Ninh;
3. Ban 3 Điều Hành;
4. Ban 4 Tiếp Liệu;
5. Ban 5 Tâm Lư Chiến,
Khối Bổ Sung nằm trong căn cứ Hoàng Hoa Thám của
Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù (SĐND)
có thể thu nhận khoảng 2,000 tân binh nhảy dù cùng một
lúc.
Khối Bổ Sung có nhiệm vụ :
1. Tuyển mộ: Phối hợp với Pḥng 3 SĐND tổ chức các toán tuyển mộ đi các quân khu tuyển mộ thẳng các thanh niên trong tuổi thi hành quân sự thích đi lính Nhảy Dù, hoặc các quân nhân của các đơn vị Bộ Binh t́nh nguyện về phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù.
Hơn nửa theo tài liệu [9] : Quân nhân của Sư Đoàn Nhảy Dù từ binh sĩ đến sĩ quan đều là thành phần t́nh nguyện sau khi măn khóa quân trường, tuy nhiên vẫn phải qua một quá tŕnh tuyển chọn rất kỹ lưỡng mới được gia nhập vào binh chủng. Đặc biệt phần lớn lực lượng là con em Công Giáo, trong số đó cũng có khá nhiều người miền Bắc di cư năm 1954.
Sau khi ghi tên t́nh nguyện tại điạ phương, các tổ tuyển mộ xin phương tiện cho họ di chuyển về Khối Bổ Sung. Tại đây họ được lập các thủ tục hành chánh, lănh quân trang quân dụng và chia thành các đại đội .
2. Huấn Luyện gồm 2 giai đoạn :
a) Giai đoạn 1: Huấn luyện quân sự, thời gian 3 tháng. Sau các thủ tục hành chánh, các tân binh được gởi đi thụ huấn quân sự tại Tiểu Đoàn Khóa Sinh Vương Mộng Hồng thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ;
b) Giai đoạn 2 : Huấn luyện Nhảy Dù, thời gian 1 tháng. Sau thời gian thụ huấn quân sự 3 tháng, các tân binh Nhảy Dù được Tiểu Đoàn Vương Mộng Hồng chuyển trở lại Khối Bổ Sung. Tại đây hằng ngày các cán bộ Khối Bổ Sung hướng dẫn các Đại Đội tân binh sang Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù trong căn cứ Hoàng Hoa Thám để được huấn luyện về kỹ thuật nhảy dù .
Sau 3 tuần lễ dưới đất thực tập mặc dù, khám dù, lên phi cơ, nhảy ra khỏi đài cao 11 thước, lấy thế đáp xuống đất, tránh dù lôi.... các tân binh được lên phi cơ thực hiện 6 saut nhảy dù tự động và một saut nhảy dù đêm. Từ đây các tân binh mới thật sự là một chiến binh Nhảy Dù thực sự. Và Họ sẽ được phân phối đến các đơn vị theo nhu cầu.
Theo tài liệu [10] : Quân trường Vương Mộng Hồng thành lập năm vào 1954 ,trực thuộc Tổng Cụ Quân Huấn-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa,có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo căn bản Binh Chủng (Nhảy Dù ?) cấp binh sĩ, đồng thời huấn luyện bổ túc căn bản cho sĩ quan, hạ sĩ quan tốt nghiệp từ các trường Vơ Bị, Vơ Khoa, Đồng Đế được tuyển vào Binh Chủng. Quân trường Vương Mộng Hồng hoạt động đến năm 1975 th́ chấm dứt .
Theo tài liệu [11] & [12] : Tới đầu thập niên 1960, Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung ở quận Hóc Môn-Tỉnh Gia Định có mười hai (12) trại huấn luyện quân sự, trong số đó có Quân Trường Vương Mộng Hồng.Quân Trường này được mở ra v́ Binh Chủng Nhảy Dù cũng huấn luyện căn bản quân sự ở đây .
Tài liệu [11] viết : Nổi tiếng nhất là trại Vương Mộng Hồng chuyên đào tạo lính dù, biệt kích , đơn vị tổng trừ bị khét tiếng lúc bấy giờ.
Một facebooker (Công Bằng) tài liệu [13] viết : Trại Vương Mộng Hồng ở ngay trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, h́nh như ít ai biết trại này .
Một facebooker (Ngoc Son Ton) tài liệu [ 14] viết : ‘’Năm 1967, tôi học quân sự tại trại Vương Mộng Hồng, lúc đó có ba đại đội ABC . Tôi ở đại đội C. Sau khi mản khóa, tôi trở về trại Hoàng Hoa Thám để học nhảy dù, Khóa Dù 111’’.
(Chú thích : Quân Trường Vương Mộng Hồng thành lập từ năm 1954 cho đến năm 1964 chắc hẳn không có tên Vương Mộng Hồng , bởi v́ :
· Từ 04/02/1957 cho đến 17/01/1960, Vương Mộng Hồng c̣n là khóa sinh Khóa 14 Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam ;
· Giữa năm 1964 , Đại Uư Vương Mộng Hồng, mới được vinh thăng,th́ hy sinh trên chiến trường .
Do bởi sự hy sinh này mà binh chủng Nhảy Dù mới lấy tên Vương Mộng Hồng đặt cho Quân Trường này ?. Xin các bực thức giả bổ túc cho. Xin đa tạ) .
Xin ghi thêm chi tiết về sự hy sinh Đại Úy Nhảy Dù Vương Mộng Hồng trích từ tài liệu [7] :
‘’Khoảng cuối năm đó hoặc đầu năm 1964, Trung Uư Vương Mộng Hồng, Khoá 14 Vơ Bị Quốc Gia (Khóa Nhân Vị) , là Sĩ Quan Đặc Trách Hành Quân và Huấn Luyện, dưới quyền Đại Uư Liêu Quang Nghĩa, Trưởng Pḥng Ba Liên Đoàn Nhảy Dù.Vào thời đó, các sĩ quan xuất sắc của Nhảy Dù thường được mời về huấn luyện cho tân binh.
Đến giữa năm 1964 th́ Đại Uư Vương Mộng Hồng, mới được vinh thăng, hy sinh tại Tây Ninh. Trận đó, có Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù và Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù tham gia cuộc Hành Quân Huyết Hoả.
Vào một sáng sớm, cộng quân pháo kích vào vị trí đóng quân khiến Thiếu Uư Nguyễn Anh Vũ, Thủ Khoa Khoá 18 Vơ Bị Quốc Gia, tử thương. Gần đến trưa hôm đó, Thiếu Uư Bảo Sung và Thiếu Uư Phan Văn Tân, cùng Khoá 16 Vơ Bị Quốc Gia, lái một chiếc trực thăng H-34 lên đó để chở thi hài Nguyễn Anh Vũ và một số thương binh. Đại Uư Vương Mộng Hồng v́ trách nhiệm của ḿnh nên cũng theo chiếc trực thăng lên đó xem t́nh h́nh. Chiếc trực thăng vừa đáp xuống th́ trúng đạn pháo kích của địch và bốc cháy. Cả ba vị sĩ quan nói trên đều tử thương.
Qua sự việc này, các bạn trẻ hiểu được tại sao bên Nhảy Dù có Tiểu Đoàn Vương Mộng Hồng’’ .
Dưới đây là vài hàng về Tiểu Đoàn Khóa Sinh Vương Mộng Hồng :
Theo tài liệu [7] & [15] : Sau khi Đại Úy Vương Mộng Hồng hy sinh trên chiến trường vào năm 1964, th́ tiểu đoàn khóa sinh được đặt tên là Vương Mộng Hồng. Sau đó, các tân binh chiến sĩ Nhảy Dù được gởi đi thụ huấn quân sự tại Tiểu Đoàn Khóa Sinh Vương Mộng Hồng.
Theo tài liệu [16] : Tiểu Đoàn Khóa Sinh Vương Mộng Hồng cũng là một đơn vị ngoài bảng cấp số của SĐND trực thuộc Pḥng 3/SĐND gồm những cán bộ phụ trách quản trị và giám sát kỷ luật các Đại Đội tân binh Nhảy Dù và hằng ngày đưa họ sang thụ huấn quân sự ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung .
Các Vị Tiểu đoàn Trưởng liên tiếp của Tiểu Đoàn Khóa Sinh Vương Mộng Hồng:
1. Trung Tá Trương Kế Hưng;
2. Trung Tá Lê Minh Ngọc;
3. Trung Tá Phạm Kim Bằng;
4. Thiếu Tá Phan Thanh Miên.
Sau 3 tháng huấn luyện quân sự , các tân binh được chuyển trở lại Khối Bổ Sung Nhảy Dù để được đưa sang Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù huấn luyện phần kỹ thuật nhảy dù.
Một Tân Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan Khóa 6/70 Sĩ Quan Trừ Bị Trường Bộ Binh Thủ Đức, trong lúc thụ huấn giai đoạn 1 tại Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung đă quan sát các Tân Binh Nhảy Dù tập luyện rất nghiêm chỉnh và ghi trong tài liệu [17] như sau : ‘’Tiểu Đoàn Vương Mộng Hồng là (gồm ?) những Tân Binh Nhảy Dù, mang đủ quân trang, quân dụng nặng ch́nh chịch, luôn luôn súng bồng “thế cầm tay” xéo 45 độ, vừa chạy vừa hát mà đại đội vẫn ngay hàng thẳng lối như thường’’.
Dưới đây là Vương Mộng Hồng Hành Khúc trích từ tài liệu [18]
‘’ Đoàn khóa sinh Vương Mộng Hồng hiên ngang
Vượt mọi nguy nan kiên gan bền chí
Đem chí thanh niên học hành
Đem sức trai hùng tập tành
Xây tương lai vinh quang cho ngày mai
Noi gương sáng tiền nhân anh dũng
Đoàn Dù ta hăng hái lên đường
Quyết giữ vững niềm tin , bao gian lao không sờn
Vương Mộng Hồng ngàn đời ghi danh ! 1 2 3 4....
Nhảy Dù Cố Gắng ! ‘’
Phần 3 : Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám
Theo tài liệu [1] & [4] & [3] & [5] & [19] & [20] :
Sau Hiệp định Genève năm 1954, các Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù của Pháp tại
Đà Nẵng và Hà Nội bị giài tán, riêng Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù tại Sài G̣n trong
căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất , Tây-Bắc ngoại ô Sàig̣n, được chuyển giao lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vào ngày 01 tháng 5 năm 1955 .
Trung Tâm này rập theo trường nhẩy dù Fort Benning (Hoa Kỳ), dùng tài sản của trường Huấn Luyện Nhảy Dù Pháp trước kia và cùng tọa lạc với Liên Đoàn 3 Nhẩy Dù .
Theo tài liệu [21] : Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù ( tại Tân Sơn Nhứt) có tên tiếng Pháp là BAPS (Base Aéroportée Parachutist Sud) . Lúc nầy, Trung Tâm c̣n do người Pháp chỉ huy và huấn luyện ;Thượng Sĩ Nhứt Trần Văn Vinh là Thường Vụ của Trung Tâm.
Thượng Sĩ Nhứt Trần Văn Vinh là vị huấn luyện viên người Việt Nam có cấp bậc cao nhất, làm phụ tá cho Chỉ Huy Trưởng của Trung Tâm , Trung Úy Huott. Thượng Sĩ Nhứt Trần Văn Vinh được thăng cấp Chuẩn Úy và được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Việt Nam.
Cùng Với Chuẩn Úy Trần Văn Vinh, có khoảng 10 Hạ Sĩ Quan Huấn Luyện Viên Việt
Nam khác cũng được chuyển sang Liên Đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam. Vào năm 1954, Liên
Đoàn 3 Nhảy Dù cũng tuyển chọn một số sĩ quan và hạ sĩ quan từ các đơn vị gửi đi thụ huấn khoá Huấn Luyện Viên nhảy dù tại Hà Nội và Đà Nẵng, trong số này có Thiếu úy Lâm Quang Thới (TĐ1ND), Trung úy Trương Quang Ân (TĐ3ND), Thiếu úy Vũ Văn Giai
(TĐ5ND), và Thiếu úy Nguyễn Vỹ (TĐ7ND).
Theo tài liệu [21] : Căn cứ BAPS nầy về sau bàn giao lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam và được mang tên là Căn Cứ Hoàng Hoa Thám, bản doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù .
V́ vậy,Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Việt Nam tại Tân Sơn Nhứt có thể được coi là tiền thân của Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám .
Theo tài liệu [13] : Trại Hoàng Hoa Thám là Trung tâm huấn luyện của Binh chủng nhảy dù thuộc VNCH . Trại Hoàng Hoa Thám cũng là nơi đồn trú của Bộ Tư Lệnh Sư đoàn Nhảy Dù.
Theo tài liệu [22] : Trên con đường Lê Văn Duyệt, hướng từ Sài G̣n về Bà Quẹo, cách Ngă Tư Bảy Hiền (Quận Tân B́nh-Tỉnh Gia Định) khoảng non một cây số, về bên tay phải là Trại Hoàng Hoa Thám, nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù, trong đó có Trại Gia Binh Hoàng Hoa Thám, nơi trú ngụ của vợ con và thân nhân các Chiến Binh Nhảy Dù.
(Xem thêm chi tiết về các cơ sở trong trài Hoàng Hoa Thám trong Phụ đề 1).

Sân cờ Trại Hoàng Hoa Thám – Đại bản doanh SĐND/QLVNCH – H́nh trích từ tài liệu [22] & [23] & [24]

Băi đáp Trực thăng & Kỳ đài trong sân cờ Trại Hoàng Hoa Thám – Sư Đoàn Nhảy Dù QLVNCH – H́nh trích từ tài liệu [23]

Không ảnh Trại Hoàng Hoa Thám- H́nh trích từ tài liệu [23]
Không giống như những đơn vị khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Sư Đoàn Nhảy Dù chỉ nhận những Quân Nhân hoàn toàn t́nh nguyện. Đây là một đặc điểm khác biệt v́ Sư Đoàn Nhảy Dù phải trực diện với những chiến trận khốc liệt và chắc chắn sẽ có nhiều thương tổn.
Hằng năm số người t́nh nguyện trung b́nh khoảng 4000 thanh niên trai trẻ.
Những thanh niên t́nh nguyện sau khi được chọn lựa, trước hết phải qua một khóa huấn luyện quân sự 9 tuần lễ. Sau đó lại phải trải qua 3 tuần lễ huấn luyện về nhảy dù bao gồm một tuần lễ dưới đất, một tuần lễ nhảy thực tập chuồng cu và một tuần lễ nhảy dù.
Đến đây các quân nhân t́nh nguyện này mới chính thức được chấp nhận là “Lính Dù”.
Đến năm 1975, số khoá dù huấn luyện lên đến trên 200 khoá và trên 50,000 khoá sinh
tốt nghiệp. Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù c̣n đào tạo 7 khoá Huấn Luyện Viên với
rên 200 Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan tốt nghiệp.
Ngoài việc đào luyện cho các quân nhân cơ hữu cuả đơn vị nhảy dù, Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù c̣n huấn luyện cho các quân nhân thuộc các quân binh chủng khác gởi tới thụ huấn để nâng cao tinh thần tác chiến cũng như nhu cầu cần thiết cuả đơn vị như :
– Lực Lượng đặc biệt ;
– Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù-Xem thêm chi tiết trong Phụ đề 2) ;
– Các đơn vị trực thuộc Phủ Tổng Thống và Bộ Tổng Tham Mưu;
– Đơn vị Người Nhái Hải Quân;
– Sinh Viên Sĩ Quan Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt;
– Một số phóng viên chiến trường thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ;
– Một số nhỏ các chuyên viên quân sự ngoại quốc ;
– Một số sĩ quan cao cấp thuộc tất cả các Quân Binh Chủng khác.
Các Cấp Chỉ Huy Liên tiếp của Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám :
1. Chuẩn Úy Trần Văn Vinh Từ ngày 01 tháng 5 năm 1955 nhận bàn giao từ người Pháp;
2. Thiếu Úy Đỗ Đức Hạnh 1956 – 1957 thay thế trong thời gian Chuẩn úy Vinh đi học
khoá Sĩ Quan Trung Đội Trưởng;
3. Thiếu Úy Trần Văn Vinh 1957 - 1973 (về sau thăng cấp lên đến Trung Tá);
4. Trung Uy Đỗ Văn Thuận 1973 - 1975 thay thế Trung Tá Vinh về Khối Chiến Tranh Chính Trị .
Nhiệm Vụ:
Nhiệm vụ chính yếu cuả Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù là huấn luyện nhảy dù cho
các quân nhân phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù và một số các đơn vị đặc biệt trong
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, với các khoá Huấn Luyện Căn Bản và các khoá Huấn Luyện Viên Nhảy Dù .
Khoá Huấn Luyện Căn Bản:
Tất cả quân nhân t́nh nguyện gia nhập Binh Chủng Nhảy Dù không phân biệt cấp bậc,
ngành chuyên môn kể cả các vị Tuyên Úy tôn giáo đều phải qua giai đoạn huấn luyện nhảy dù và được cấp bằng nhảy dù.
Trước khi nhập khoá, các quân nhân phải trải qua một cuộc trắc nghiệm sức khoẻ trong
2 ngày và phải đạt được số điểm ấn định tối thiểu, nếu ai bị thương tật về chân, tay hoặc mắt kém đều bị loại.
Ngày đầu trắc nghiệm 8 môn thể dục cuả người quân nhân bao gồm :
– Chạy 100 mét (nước rút có Ba lô và súng) ;
– Cơng bạn chạy 100 mét ;
– Hít đất 45 cái ;
– Nhảy xa ;
– Thụt dầu 66 cái ;
– Leo dây 3 mét ;
– Uốn bụng 66 cái ;
– Hít xà ngang.
Ngày thứ hai chạy dă chiến 8000 thước với trang phục hành quân, sau khi nghỉ 30
phút, tiếp tục chạy với tốc độ 1500 thước, đường chạy là ṿng đai phi trường Tân Sơn
Nhứt về đến Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù .
Huấn Luyện giai đoạn 1:
Tuần thứ nhất: Huấn Luyện dưới đất, gồm các môn :
− Học về dù lưng, dù bụng, dù có bao nhiêu dây, bao nhiêu múi, sức chịu đứt là bao nhiêu, cách mặc dù lưng, dù bụng và các trang bị hành quân,
− Học cách thức nhảy ra khỏi phi cơ ;
− Học cách kiểm soát và lái dù theo ư muốn ;
− Học các thế đáp (té) để tránh bị thương tích khi từ trên không đáp xuống đất ;
− Thu lượm và bảo tŕ dù sau khi đáp xuống đất.
Tuần thứ hai: Huấn Luyện trên các đài nhảy.
− Đài 4 thước, cách nhảy ra khỏi cửa phi cơ để làm quen ở độ cao trung b́nh;
− Đài 11 thước (chuồng cu) nhảy ra khỏi cửa phi cơ ở độ cao để làm quen cảm giác
mạnh;

Đài 11 thước (hay chuồng cu) thử thách ḷng can đảm Chiến Sĩ Nhảy Dù – H́nh trích từ tài liệu [19] & [23]

Tập chuồng cu - H́nh trích từ tài liệu [23]

Chuẩn bị tunh ḿnh ra khỏi máy bay giả - H́nh trích từ tài liệu [23]
− Đài 12 thước (thường gọi là Dây tử thần khô) tập đáp xuống đất để làm quen với tốc
độ va chạm mặt đất từ trung b́nh đến mạnh ;

Đi dây tử thần- H́nh trích từ tài liệu [23]
− Cách tránh dù lôi khi trời có gió, lúc đáp từ trên không trung xuống đất.

Tập điểu khiền dù - H́nh trích từ tài liệu [23]

Tập chống dù lôi - H́nh trích từ tài liệu [23]

Dù lôi - H́nh trích từ tài liệu [23]
Huấn Luyện giai đoạn 2:
− Thực tập nhảy dù từ trên phi cơ ở độ cao 400 thước (1200 feet) xuống đất gồm có 6 lần nhảy ban ngày (1 lần với trang bị hành quân) và 1 lần nhảy ban đêm,
− Về những năm sau này v́ phương tiện eo hẹp và nhu cầu chiến trường đ̣i hỏi nhanh
chóng nên bằng dù chỉ cần 5 Saut (Nhảy) là đủ .
Khóa Huấn Luyện Viên Nhảy Dù:
Các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan khoá sinh Huấn Luyện Viên Nhảy Dù được tuyển chọn từ các cán bộ đă có kinh nghiệm nhảy dù và phải có ít nhất từ 30 lần nhảy trở lên, thuộc các đơn vị trong Sư Đoàn Nhảy Dù.
Sau khi tốt nghiệp, một số được giữ lại để bổ sung quân số huấn luyện viên tại Trung
Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù, số c̣n lại được trả về lại đơn vị để phụ giúp đơn vị trong các buổi nhảy dù thao duợt cũng như hành quân không vận cuả đơn vị.
Đơn vị Lực Lương Đặc Biệt thuộc Bộ Tổng Tham Mưu v́ nhu cầu bảo mật và lớn mạnh, nên cũng gởi các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan về thụ huấn các khoá Huấn Luyện Viên Nhảy Dù, sau đó trở về thành lập một Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù riêng cuả Lực Lương Đặc Biệt ở Ba Ng̣i Nha Trang thuộc Quân Đoàn II .

Chuẩn bị lên phi cơ -H́nh trích từ tài liệu [23]

Kiểm soát dù trước khi lên phi cơ đi nhảy - H́nh trích từ tài liệu [20]
Điểm danh lần cuối trước khi lên phi cơ đi nhảy- H́nh trích từ tài liệu [20]

Chờ đến lượt nhảy - H́nh trích từ tài liệu [20]
Xếp hàng một lên phi cơ đi nhảy - H́nh trích từ tài liệu [20]
Trong ḷng phi cơ - H́nh trích từ tài liệu [20]
Huấn Luyện Viên Nhảy Dù QLVNCH- H́nh trích từ tài liệu [20]
Chuẩn bị nhảy ra khỏi phi cơ - H́nh trích từ tài liệu [20]

Tân khóa sinh chuẩn bị phóng ra khỏi phi cơ - H́nh trích từ tài liệu [20]
Nhảy ra khỏi phi cơ - H́nh trích từ tài liệu [20]

Hoa dù nở trong mây - H́nh trích từ tài liệu [23]

Hoa dù trên băi nhảy - H́nh trích từ tài liệu [20]
Nhảy bằng phi cơ C-47 Caribu - H́nh trích từ tài liệu [20]
Các phi cơ C-47 thả dù trên băi nhảy - H́nh trích từ tài liệu [20]
Nhảy dù băng phi cơ C-119 - H́nh trích từ tài liệu [20]
Chuẩn bị đáp - H́nh trích từ tài liệu [20]
Các Thiên Thần Mũ Đỏ đang đáp xuống đất - H́nh trích từ tài liệu [20]
Hoa dù trên băi nhảy - H́nh trích từ tài liệu [20]

Dù bọc gió - H́nh trích từ tài liệu [20]

Cảnh sinh hoạt trên băi đáp - H́nh trích từ tài liệu [20]
Nữ Quân Nhân Nhảy Dù trên máy bay - H́nh trích từ tài liệu [20]
Nữ Quân Nhân Nhảy Dù trên băi đáp - H́nh trích từ tài liệu [25]
Chiến binh Nhảy dù Dư Quốc Đống ,Trung Tướng Tư Lệnh Binh chủng Nhảy Dù , chuẩn bị nhảy ra khỏi phi cơ - H́nh trích từ tài liệu [20]

Quang cảnh Nhảy dù cấp Sư Đoàn - H́nh trích từ tài liệu [20]

Bằng nhảy Dù QLVNCH gắn trên chiến y Nhảy dù - H́nh trích từ tài liệu [20]
Bằng Nhảy Dù do Liên Đoàn Nhảy Dù QĐVNCH cấp năm 1968- H́nh trích từ tài liệu [23]
Phụ đề 1 : Các cơ sở trong Trại Hoàng Hoa Thám
Theo tài liệu [22] & [24] :

Cổng A Trại Hoàng Hoa Thám - H́nh trích từ tài liệu [23] & [26]
Trại Hoàng Hoa Thám với những hàng cây Điệp chạy dài từ Cổng “A”, đi thẳng khoảng vài trăm mét, bên phải sẽ gặp Trại Trần Quư Mai, Hậu Cứ Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, sít lên chút nữa, bên trái là Ngôi Thánh Đường (nhà thờ của Sư Đoàn Nhảy Dù) và mái trường Thống Nhất thân yêu, đi thẳng, bên trái là Pḥng Sĩ Quan Trực Sư Đoàn, kế bên là nơi trưng bày những chiến lợi phẩm như: Thượng Liên 12.7ly, Đại pháo 130ly, xe tăng T–54, và các súng Cộng Đồng khác cùng những h́nh ảnh về Đoàn Quân Mũ Đỏ đă tịch thu qua các cuộc hành quân.
Bên tay phải là Sân Cờ Bộ Tư Lệnh, rẽ trái là nơi làm việc của các Pḥng 1, 2, 3, 4, và Pḥng 5 Tâm lư Chiến thuộc Bộ Tư Lệnh, rẽ trái lần nữa sẽ gặp Bệnh Viện Đỗ Vinh, sân Đá Banh, đi thẳng nữa sẽ gặp Đại Đội 1 Quân Y, Tiểu Đoàn Truyền Tin, Pḥng Huấn luyện Tae–kwon–Do, Ban Quân Nhạc, Nhà bếp Sư Đoàn, đằng sau là Pḥng Khánh Tiết với những hàng cây Điệp thỉnh thoảng xen vào Cây Phượng Vĩ nở rộ vào mùa hè.
Trong Trại Hoàng Hoa c̣n có Trung tâm Huấn Luyện Nhảy Dù, có đài 11 mét (thường gọi là Chuồng Cu).
Cuối con đường kéo dài từ Cổng “A” quẹo phải, đi qua hậu cứ TĐ8ND (đối diện là Câu Lạc Bộ Hoa Dù) là Khối Bổ Sung/SĐND (đối diện là Trại DAVID–Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên. Nơi đây những người lính Nhảy Dù được bổ sung về các Đơn Vị sau khi học dù xong.
Đă là lính Nhảy Dù ít nhiều cũng một lần ghé chân [tại] Trại Hoàng Hoa Thám như học dù, bị thương điều trị tại Bệnh Viện Đỗ Vinh, hoặc những đơn vị đồn trú trong Căn Cứ Hoàng Hoa Thám như Bộ Tư Lệnh, Quân Y, Truyền Tin, Pháo Binh, Tiểu Đoàn Yểm Trợ, TĐ8ND, TĐ9ND, TĐ2ND, ĐĐ1TS [Trinh Sát], ĐĐ3TS... và các lư do khác để một lần đặt chân đến Trại Hoàng Hoa Thám....
Nhưng mọi việc không xảy ra như thế và có những trường hợp người lính Nhảy Dù chỉ đúng một lần ghé qua Khối Bổ Sung và vĩnh viễn không c̣n cơ hội để nhận rơ Trại Hoàng Hoa của ḿnh .
Trong Trại Hoàng Hoa Thám có hai dăy nhà bán Cafe (Cà phê) , quán cơm, ngôi chợ thường gọi là Chợ Sư Đoàn cho Vợ con Lính , nơi phục vụ cho các chiến binh khi bị cấm trại, nơi lui tới của bạn bè trong Trại, cũng có quán nhậu lai rai, có bàn bi–da, cafe nhạc, điểm tâm,quán cơm…
Chợ Sư Đoàn, một danh xưng
nghe “ngồ ngộ” nhưng lại rất quen thuộc với
những ai đă từng là Lính Nhảy Dù, trại Hoàng Hoa
Thám bản doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy
Dù.
Chợ Sư Đoàn gồm có một ngôi chợ nhỏ
để các thân nhân như vợ con lính cư ngụ trong
Trại Gia Binh Hoàng Hoa Thám có điều kiện sinh hoạt
mua bán hàng ngày...
Có hai dăy nhà bán Café, quán cơm, bán bánh ḿ, tiệm may… dọc
theo kéo dài đến cổng hàng rào vào Doanh Trại như Bệnh
Viện Đỗ Vinh, Sân Banh, Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy
Dù… Quán cơm nổi bật nhất tên là Mai Lan, quán Café “ông
già cơm tấm”, quán Café Bà Tán, quán Café hai chị em Ngọc–Ngà,
quán Café bánh ḿ của cô Oanh (con ông Quế), tiệm may Tuấn,
tiệm may Sơn, bàn Bi-da O Hội, bàn Bi-da bà Dung... và có một
ngôi Thánh Đường Micae (Nhà Thờ của SĐND) và
mái trường mang tên Thống Nhất do cố Linh Mục
[Tuyên úy SĐND] Vũ Ngọc Đáng sáng lập và làm
Hiệu Trưởng cho đến ngày “Lịch Sử Sang
Trang”.
Theo tài liệu [21] : Trong Trại Gia Binh có mái trường Thống Nhất do Cha Vũ Ngọc Đáng làm Hiệu Trưởng, nhờ Ngài mà tất cả con em của lính đều được đi học. Nếu đi học Tiểu Học Ngài không lấy tiền học phí, học Trung Học Đệ Nhất Cấp học phí chỉ đóng một nửa, rồi kế tiếp Ngài mở rộng lên đến Trung Học Đệ Nhị Cấp, th́ cái Ngày Đen Tối ấy sập đến và ngôi trường Thống Nhất của Cha cũng bị xóa sổ. Ngài cũng bị đi tù v́ cấp bậc của Ngài lúc ấy là Trung Tá, sau đó Ngài đi theo diện HO qua Hoa Kỳ, tuy bên đó nhưng Ngài vẫn luôn nhớ đến các học sinh bé nhỏ ngày nào, nên v́ thế hằng năm Trường Thống Nhất (SĐND) tổ chức họp mặt vào Ngày Thánh Micae (29-9) do Ngài yểm trợ và giúp đỡ. Con (tác già tài liệu ) viết những ḍng chữ này như một nén nhang kính cẩn dâng lên Cha và xin thay mặt toàn thể Cựu Học sinh Thống Nhất muôn đời tri ân Cha đă khai sáng, giúp đỡ cho chúng con có được con chữ để bước vào đời.
Cũng từ ngôi trường Thống Nhất này và ngôi chợ nhỏ tên là Chợ Sư Đoàn , những mối t́nh của các chàng Chiến Binh với các nàng thiếu nữ (con của Lính Nhảy Dù) đă nên duyên chồng vợ bền vững keo sơn cho đến tận ngày hôm nay, và cũng có những mối t́nh dang dở nửa chừng v́ Chàng Chiến Binh đă đi măi không về, Chàng đă hy sinh v́ Quê Mẹ và nước mắt khóc thầm của những nàng thiếu nữ cho những mối t́nh buồn trong cuộc chiến...
Tác giả tài liệu [22] : ‘’Nếu ai đă từng sống trong Trại Gia Binh mới hiểu thấu những chịu đựng, mong chờ của người vợ lính. Tôi c̣n nhớ, khi Bố tôi đi hành quân, hàng tháng Mẹ tôi thường lên Hậu Cứ gởi Cafe, thuốc lá, loại mà Bố tôi thích, kèm theo 2 lon guigoz mắm ruốc xào với thịt ba chỉ hoặc những ǵ cần thiết do Bố tôi gởi thư về yêu cầu khi Mẹ tôi lên nhận lương từ ông Kế Toán Trưởng Đại đội. Sau này Mẹ tôi cũng vẫn làm như thế khi tôi trở thành người lính Nhảy Dù và cũng đi hành quân, xin cám ơn Mẹ đă luôn chu đáo cho Bố và con, và tôi càng thấm thía nỗi mong chờ của người vợ, người Mẹ có chồng, con là lính Nhảy Dù. Xin vinh danh những người Mẹ, Vợ, Chị có Chồng, Con, Em là Lính Nhảy Dù đă hy sinh trong cuộc chiến vừa qua, những mất mát đó không ǵ có thể bù đắp được và những chịu đựng ấy thật to lớn. Xin Kính Phục tấm ḷng chịu đựng của Quư Mẹ, Vợ, và Các Chị. Xin Kính Cẩn thắp nén nhang ḷng dâng lên tất cả các Chiến Sĩ đă hy sinh cho Tổ Quốc…. Luôn nhớ và Tri Ân các Chiến Sĩ đă bỏ lại một phần thân thể cho Quê Hương’’.
Dừng lại, ghé vào một quán Cafe (Cà phê) ở Chợ Sư Đoàn, uống một ly cafe, hút một điếu thuốc Capstan, nghe một vài bản nhạc để sống lại quăng thời gian năm ấy.... Bản nhạc “Anh không chết đâu Anh” về người Sĩ Quan Pháo Binh Nhảy Dù, Đại úy Đương đă hy sinh tại Ngọn Đồi 31 trong cuộc hành quân Hạ Lào, kiêu hùng lắm! Riêng bản nhạc “Người ở lại Charlie” nói về sự hy sinh của cố Đại tá Nguyễn Đ́nh Bảo, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tại Căn Cứ Charlie .
Thỉnh thoảng, Pḥng Tâm Lư Chiến Sư Đoàn tổ chức chiếu phim vào chiều tối cho vợ con Gia Đ́nh Binh Sĩ xem như các bộ phim như “Ánh Sáng Miền Nam”, “Chúng Tôi Muốn Sống”, “Bốn Ngày Phép” …
Nay
xin mời trở lại Cổng “A” để tiếp nối
chuyến đi thăm Trại Hoàng Hoa Thám.
Từ Cổng “A” đi thẳng khoảng vài trăm mét, bên
phải là Trại Trần Quư Mại, hậu cứ của
Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, có đường đi qua Cổng
Phi Long của Không Quân, cổng này các Lính Nhà Ta thường
“chuồn” khi có lệnh Cắm Trại 100%.
Theo tài liệu [22] : Cuối con đường đi vào gặp Trại Trần Quư Mại rẽ trái, là Hậu Cứ của Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù. Con đường này tuy không đẹp v́ không có những hàng cây Điệp thỉnh thoảng chen lẫn vài Cây Phượng như con đường trong Bộ Tư Lệnh v́ mới mở rộng thêm sau này, nhưng con đường này, tôi (tác giả tài liệu [22] và các bạn thường đi để ra ngoài như xem Ciné , coi đá banh tại sân Cộng Ḥa, đi tắm hồ tắm Chi Lăng bên Gia Định hoặc đi ra ngoái Trại Gia Binh mỗi khi có việc.
Tiếp tục, rẽ trái khoảng vài chục mét sẽ gặp Quầy hàng Quân Tiếp Vụ bên trái, Bảo Sanh Viện, Chẩn Y Viện dành cho Gia Đ́nh Binh Sĩ, đối diện là Gia Binh của Công Binh.
Qua Cổng “C” cũ, bên phải có một lô cốt là Gia Binh của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, thẳng lên bên trái sẽ gặp Chùa Hưng Pháp, đối diện là Gia Binh của Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, tiếp tục sẽ gặp Hậu Cứ của Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, Trại Thạch Văn Thinh ,đối diện là Trại Trần Thanh Phương Hậu cứ của Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, kế bên cuối con đường là Hậu Cứ của Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù.
Bên hông Hậu Cứ Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù có một con đường đất đỏ, bên phải là Trại Gia Binh, nếu đi thẳng sẽ gặp Hậu Cứ của Tiểu Đoàn Yểm Trợ, đi tiếp sẽ gặp lại nhà bếp Sư Đoàn, đối diện là Sân Bắn, đi thẳng nữa là Đại Đội Quân Xa (có cái Hồ Nước mà Ccon em binh sĩ thường tắm); Cũng con đường này, khi đi hết ṿng rào của Hậu Cứ Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, quẹo trái, thẳng lên là Hậu Cứ của Đại Đội 3 Trinh Sát Nhảy Dù, ngó qua là Đài 7, Sân Bắn, qua khỏi Ụ Đất sân bắn là Kho Đạn của Sư Đoàn và Đài 8 (vọng gác vành đai của Sư Đoàn và Bảo Vệ kho đạn).

Tháp nước trong Trại Hoàng Hoa Thám (bên trái h́nh) - H́nh trích từ tài liệu [22]
Lần
này, đi lên chút nữa gặp Bồn Nước (Tháp
nước) cao, rẽ trái sẽ gặp Bộ Chỉ Huy
Pháo Binh Sư Đoàn, Đại Đội Kỹ Thuật
bên phải, bên trái là Văn Pḥng Chỉ Huy Căn Cứ
Hoàng Hoa Thám, sau lưng Văn Pḥng là Đại Đội
204 Quân Cảnh Nhảy Dù, từ Văn Pḥng Chỉ Huy
đi thẳng, bên trái là Bệnh Viện Đỗ Vinh mở
rộng, có một căn pḥng dùng để Khám Sức Khỏe
Học Dù, ngó qua là Sân Banh, nếu ai đă từng học dù
c̣n nhớ, một lần khám là 10 người, bận Xà lỏn,
chạy từ Sân Banh, nơi để quần áo qua căn
pḥng khám sức khỏe học dù, sau khi đă sexy 100% trong
pḥng để Bác sĩ khám.
Đi qua Sân Banh, bên phải là Đại Đội Tổng
Hành Dinh, đối diện là Hậu Cứ Lữ Đoàn 1
Nhảy Dù, đi thẳng sẽ gặp Kho Quân Nhu, bên phải,
đối diện là Pḥng Khánh Tiết Sư Đoàn, đi
thẳng thêm chút nữa sẽ có một ngă tư, bên phải
là Đại Đội Quân Xa, bên trái là nhà bếp Sư
Đoàn, đi thẳng tiếp là Kho Đạn, Vọng
Gác Đài 8... như thế là giáp một ṿng Trại Hoàng
Hoa .
Phụ đề 2 : Sự khác biệt giữa Nhảy Dù và Biệt Cách Dù
Xin ghi thêm một chi tiết rất bổ ích trích từ tài liệu [27]
‘’ Nhảy Dù và Biệt Cách Dù đều dùng Dù th́ có liên hệ mật thiết về kỹ thuật hành quân và chiến thuật tác chiến không ? Câu trả lời là Không, bởi lẽ nhiệm vụ chiến thuật, chiến lược của hai binh chủng hoàn toàn khác nhau.
Nhảy Dù : Binh chủng Tổng Trừ Bị, có nhiệm vụ đánh trận địa chiến, kết hợp liên binh chủng rất hùng hậu như Pháo Binh, Thiết Giáp, Không Quân.
Nhảy Dù luôn luôn di động khắp mọi miền đất nước để đáp ứng với đ̣i hỏi khẩn cấp của những mặt trận mà những đơn vị Bộ Binh hay Địa Phương Quân không giải quyết được. Sư Đoàn Bộ Binh chỉ hoạt động trong khu vực Quân Khu và Khu Chiến Thuật của ḿnh, rất ít ra khỏi vùng trách nhiệm, ngoại trừ một vài biệt lệ.

Chiến sĩ Nhảy Dù đang tiến vào Chơn Thành, ngày 14 tháng 4 năm 1972- H́nh trích từ tài liệu [6]
Tuy mang tiếng nhảy dù, nhưng những trận đánh có nhảy dù thực sự từ trên máy bay xuống rất ít, chỉ một đôi lần, thí dụ rơ nhất là trận Ấp Bắc năm 1963. Về sau, v́ hoả lực pḥng không của cộng quân quá mạnh, chiến trường đa số thuộc vùng rừng núi rất trở ngại cho việc nhảy dù, nên kỹ thuật được ưa thích nhất là nhảy từ trực thăng xuống (gọi là chiến thuật trực thăng vận), vừa an toàn, vừa tập họp binh sĩ một cách nhanh chóng và đầy đủ nhất. Tuy vậy mỗi năm, mỗi chiến sĩ Dù từ binh sĩ lên đến hàng sĩ quan, ai cũng phải nhảy dù gọi là “Nhảy bồi dưỡng” một số saut ở những địa điểm an toàn.
Biệt Cách Dù: (Airborne Ranger): Cũng là một binh chủng Tổng Trừ Bị nhưng hoàn toàn không nằm dưới quyền điều động của Sư Đoàn Nhảy Dù, quan niệm và kỹ thuật hành quân, tác chiến cũng rất khác biệt.
Do bởi nhiệm vụ đặc biệt và bí mật, nhảy toán nhỏ, nên chiến sĩ Biệt Cách Dù hoạt động sâu trong vùng địch, hoàn toàn cách biệt với các binh chủng bạn. Binh chủng liên hệ mật thiết và luôn luôn là “good and super friends” của Biệt Cách Dù là các chiến sĩ trực thăng của Không Quân, v́ các anh Không Quân có nhiệm vụ đưa các anh Biệt Cách Dù đến địa điểm để nhảy xuống, rồi bay đến bốc các Biệt Cách Dù về.
Cũng được học nhảy dù như các chiến sĩ Dù Mũ Đỏ, nhưng các chiến sĩ Dù Mũ Xanh Biệt Cách Dù chưa từng nhảy dù trên trận địa bao giờ, v́ rất dễ bị địch phát hiện từ trên không.
Biệt Cách Dù không được huấn luyện đánh trận địa chiến, trang bị hoả lực nhẹ, đi rừng rất giỏi, đánh trong thành phố thần sầu, sở trường đánh đêm. Tuy vậy, khi cần th́ các Biệt Cách Dù cũng được Bộ Tổng Tham Mưu ném vào những chiến trường lớn như An Lộc, Quảng Trị Mùa Hè 1972, Phước Long 1974 để đánh trận địa chiến, các anh đă anh dũng hoàn thành sứ mạng ‘’.
Tài liệu tham khảo :
1. http://nhaydu.com/index_83hg_files/main_files/TieuSu-TDND/LuocSuHinhThanhBinhChungNhayDu.pdf Lược Sử H́nh Thành Binh Chủng Nhảy Dù (Trích từ quyển ‘20 Năm Chiến Sự’’ - Binh Chủng Nhảy Dù - Đại Úy Vơ Trung Tín,Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND & Đại Úy Nguyễn Hữu Viên Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù ) .
2. https://bienxua.wordpress.com/2016/10/18/tieu-su-tieu-doan-3-nhay-du/ Tiểu Sử Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù -Posted by bienxua on October 18, 2016 .
3. https://nhayduwdc.org/st/sdnd/ndwdc_st_tssdndqlvnch_2011JAN10.htm Gia Đ́nh Mũ Đỏ Việt Nam - Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận -Tiểu Sử Binh Chủng Nhảy Dù QLVNCH -1952-1975 .
4. https://linhvnch.wordpress.com/nhay-du-vnch/ Nhảy Dù VNCH .
5. https://dongsongcu.wordpress.com/2016/09/09/luoc-su-hinh-thanh-binh-chung-nhay-du-viet-nam/%20d%C3%B2ng%20s%C3%B4ng%20c%C5%A9 Lược Sử H́nh Thành Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam - Vơ Trung Tín -Posted on September 9, 2016 by dongsongcu.
6. https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) .
7. https://www.saigonweeklyonline.com/cong-dong/qlvnch-vua-mat-them-mot-chien-huu-anh-hung-trung-ta-bui-quyen-lu-doantruong-lu-doan-3-nhay-duqlvnch.html QLVNCH vừa mất thêm một Chiến Hữu Anh Hùng: Trung Tá Bùi Quyền, Lữ ĐoànTrưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù/QLVNCH - 02-06-2020 .
8. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà -Posted on January 3, 2025 by dongsongcu - 31/12/2024- NVQ sưu tầm .
9. https://vi.wikipedia.org/wiki/Binh_ch%E1%BB%A7ng_Nh%E1%BA%A3y_d%C3%B9_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam Cộng Ḥa .
10. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa - Quân trường Vương Mộng Hồng .
11. https://www.sggp.org.vn/dien-mao-moi-o-vung-dat-du-post317264.html - Diện mạo mới ở vùng đất “dữ” - 15/05/2016 .
12. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_Qu%E1%BB%91c_gia_Quang_Trung Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung .
13. https://www.facebook.com/groups/375827203600067/posts/1257906805392098/ Sài G̣n Xưa - Nguyễn Ngọc Tài - 28 septembre 2024 .
14. https://www.facebook.com/photo.php?fbid=2842171335897522&id=655282987919712&set=a.655771454537532 Hội Cựu Quân Nhân Binh Chủng Nhảy Dù Quân Lực VNCH -5 avril 2020 .
15. https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/nhay-du-chuc-da-tiec-tat-nien/ Gia đ́nh Mũ Đỏ tổ chức Dạ Tiệc Tất Niên - Lâm Hoài Thạch/Người Việt - January 12, 2017.
16. http://nhaydu.com/index_83hg_files/main_files/TieuSu-TDND/TS-TDYT-SDND.pdf Các Đơn Vị Yểm Trợ Sư Đoàn Nhảy Dù- Tiểu Đoàn Khóa Sinh Vương Mộng Hồng.
17. http://batkhuat.net/tl-quantruong.htm Trường Bộ Binh Thủ Đức- Khóa 8B+C/72 Bất Khuất -Quân Trường - Nguyễn Thừa B́nh -Ngày mùa đông Canh Dần năm 2010 .
18. https://www.facebook.com/100066345200967/posts/v%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BB%99ng-h%E1%BB%93ng-h%C3%A0nh-kh%C3%BAc-%C4%91o%C3%A0n-kh%C3%B3a-sinh-v%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BB%99ng-h%E1%BB%93ng-hi%C3%AAn-ngang-v%C6%B0%E1%BB%A3t-m%E1%BB%8Di-ngu/2842171585897497/ Hội Cựu Quân Nhân Binh Chủng Nhảy Dù Quân Lực VNCH -5 avril 2020 - Bạn Trần Quốc Dũng & Nua Dinh chuyển đăng .
19. http://nhaydu.com/index_83hg_files/main_files/TTHL.htm Tiểu sử Trung Tâm Huấn Luyện Nhẩy Dù - Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù -Cập nhật ngày 03/7/202024 .
20. http://nhaydu.com/index_83hg_files/main_files/TieuSu-TDND/TS-TDYT-SDND.pdf Các Đơn Vị Yểm Trợ Sư Đoàn Nhảy Dù - Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn Nhảy Dù - Tóm Lược Tiểu Sử Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù .
21. http://nhaydu.com/index_83hg_files/main_files/TD-CB.htm Tiểu sử Tiểu Đoàn Công Binh Sư Đoàn Nhảy Dù – Trích trong 19 năm Binh Chủng Nhẩy Dù, xuất bản năm 1974 - Thành thật cám ơn anh Nguyễn Văn Ngọc đă tặng tài liệu quư giá này - Cập nhật ngày 28/6/2019 .
22. https://www.hoiquanphidung.com/echo/truyen-linh/248-tr-i-hoang-hoa-tham-su-doan-nh-y-du-ql-vnch-m-t-th-i-d-nh-md-vu-vien Trại Hoàng Hoa Thám Sư Đoàn Nhảy Dù, QL-VNCH Một Thời Để Nhớ - MĐ Vũ Viên .
23. https://nhayduwdc.org/ls/nd/2018/ndwdc_lsnd2018_tthlND_2018NOV06_tue.htm
Gia Đ́nh Mũ Đỏ Việt Nam -Vùng Thủ đô Hoa
Thịnh Đốn và Phụ cận – Trung Tâm Huấn Luyện
Nhảy Dù Sư Đoàn Nhảy Dù QLVNCH .
24. https://nhayduwdc.org/bv/nd/bk/2025/ndwdc_bv_nd_bk2025_kyuctraiHHT_2025APR06_sun.htm Gia Đ́nh Mũ Đỏ Việt Nam Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận - Bút Ký Chủ đề: Trại Hoàng Hoa Thám–sđnd - Các Tác giả: MĐ Nguyễn Thành Thiện & Vũ Viên – Kư Ức Trại Hoàng Hoa Thám .
25. http://nhaydu.com/index_83hg_files/left_files/NqnND.htm Cựu Nữ Quân Nhân QLVNCH Mũ Đỏ Vơ Thị Vui : Người Xưa Đâu .
26. file:///E:/Quan%20truong/Nhay%20du%20TAI%20LIEU/TS-TieuDoanYemTro-SDND.pdf Các Đơn Vị Yểm Trợ Sư Đoàn Nhảy Dù - Tóm Lược Tiểu Sử Tiểu Đoàn Quân Y- Sư Đoàn Nhảy D
27. Phạm Phong Dinh - Lực Lượng Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .